- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Anh Tuấn - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 140/2020/HSST Ngày 28/5/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình T
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh D
Ông Nguyễn Việt A
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh H - Thư ký Tòa án nhân dân quận H, thành phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H, thành phố H tham gia phiên tòa:Bà Đỗ Thị Phương T - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 149/2020/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:135/2020/QĐXXST-HS ngày 14/05/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Anh T, sinh năm 1985 tại H.
ĐKHKTT và chỗ ở: số 25 N, phường P, quận T, H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12 /12; Con ông: Trần Ngọc Á, và bà: Nguyễn Thị N; Nhân thân: Tiền án; Tiền sự: Không.
Bắt quả tang ngày 16/01/2020. Tạm giữ ngày 17/01/2020. Tạm giam ngày 20/01/2020. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 02 – Công an thành phố H; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 16/01/2020 tại khu vực ngã ba Kim Đồng, Giải Phóng, phường Thịnh Liệt, quận H, H, tổ công tác Y22/141 – Công an thành phố H phối hợp cùng Công an phường Thịnh Liệt, quận H, H trong khi làm nhiệm vụ phát hiện Trần Anh T có biểu hiện nghi vấn, tiến hành kiểm tra đã phát hiện và thu giữ tại túi áo khoác phía trước bên phải của T đang mặc 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng 3x6cm bên trong chứa tinh thể màu trắng và 02 viên nén màu đỏ. Tại chỗ T khai nhận tinh thể màu trắng và 02 viên nén màu đỏ là ma túy tổng hợp T mua về để sử dụng. Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ của T 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA, màu đen, không có BKS, số máy 011176, số khung 011174. Tổ công tác đã lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và đưa T về trụ sở công an để làm rõ.
Tại cơ quan điều tra Trần Anh T khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 20 giờ 00 phút ngày 16/01/2020, T điều khiển xe máy một mình đi đến khu vực đầu ngõ 115 Định Công, quận H, H tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây T gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi nilong màu trắng kích thước khoảng 3x6cm bên trong chứa tinh thể màu trắng và 02 viên nén màu đỏ với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy T cất vào trong túi áo khoác phía trước bên phải đang mặc rồi đi về để sử dụng. Khi T đi đến ngã ba Kim Đồng – Giải Phóng, phường Thịnh Liệt, quận H, H thì bị cơ quan công an kiểm tra phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Anh Tuấn tại số 25 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, H, không phát hiện thu giữ đồ vật gì liên quan đến vụ án.
Tại kết luận giám định số 801/KLGĐ-PC09 ngày 24/01/2020 của phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố H kết luận:
- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,297 gam;
- 02 viên nén màu đỏ là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,198 gam.
Cơ quan điều tra công an quận H đã dẫn giải Trần Anh Tuấn đi xác định địa điểm mua và người bán ma túy cho Tuấn. Cơ quan điều tra đã xác định được địa điểm nhưng không xác định được người bán ma túy.
Tại bản cáo trạng số 153/CT-VKS-HS ngày 22/4/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân quận H, thành phố H: Truy tố bị cáo Trần Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[1]. Tại phiên tòa: Bị cáo Trần Anh T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và thừa nhận vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 16/01/2020 tại khu vực ngã ba Kim Đồng – Giải Phóng, Thịnh Liệt, H, H, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép tổng khối lượng 0,495 gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa sử dụng thì bị bắt quả tang. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật hình sự và thừa nhận Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng hành vi bị cáo đã thực hiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H thực hành quyền công tố luận tội tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Trần Anh T từ 16 tháng tù đến 20 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Về biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,495 gam ma túy loại Methamphetamine; Tịch thu sung vào ngân sách Nhà Nước xe máy nhãn hiệu YAMAHA, màu đen, không có BKS, số máy 011176, số khung 011174.
[2]. Phần tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo Trần Anh Tuấn thừa nhận Kiểm sát viên luận tội đối với hành vi phạm tội của mình là đúng, không oan, sai nên không có tranh luận.
[3]. Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về gia đình và hòa nhập xã hội;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 16/01/2020 tại khu vực ngã ba Kim Đồng – Giải Phóng, phường Thịnh Liệt, H, H bị cáo Trần Anh T có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,495 gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa sử dụng thì bị bắt quả tang. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính của cơ quan quản lý Nhà nước về chất gây nghiện. Vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
. Về nhân thân: Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
. Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có thu nhập ổn định.Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
- Đối với 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,495 gam ma túy loại Methamphetamine, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, màu đen, không có BKS, số máy 011176, số khung 011174 thu giữ của bị cáo. Quá trình điều tra xác minh, xác định chủ đăng ký sở hữu là chị Nguyễn Thị Thu Dung , trú tại: 5/484/50 Hà Huy Tập, Thị trấn Yên Viên, Gia Lâm, H là chị vợ của Trần Anh T. Năm 2012 do không có nhu cầu sử dụng chị Dung bán lại chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, màu đen cho T. Ngày 16/01/2020, bị cáo sử dụng chiếc xe trên đi mua và tàng trữ trái phép chất ma túy. Xét thấy chiếc xe máy là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước;
.Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý là có căn cứ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo Trần Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 và các điều luật quy định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đề xuất mức án đối với bị cáo và biện pháp tư pháp là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Khoản 1 Mục 1 Danh mục án phí lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Khoản 1 Mục 1 Danh mục án phí lệ phí Tòa án.
1.Xử phạt: Bị cáo Trần Anh T 22 (Hai mươi hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/01/2020.
2.Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
3.Về biện pháp tư pháp:
- Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,495 gam ma túy loại Methamphetamine, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA, màu đen, không có BKS, số máy 011176, số khung 011174
Hiện vật chứng đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự quận H theo phiếu nhập kho vật chứng số NK 2020-00198 ngày 24/04/2020.
4.Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5.Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKS nhân dân quận H
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Công an quận Hoàng M
- Chi cục THADS quận H
- Bị cáo
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Đình T
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM QUẬN H
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc THÀNH PHỐ H
–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––
–––––––––––––––
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
–––––––––––––––
Vào hồi 9 giờ 30 phút ngày 29 tháng 03 năm 2019;
Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân quận H, thành phố H
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trung
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Bình
Ông Nguyễn Thanh Dũng
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 82/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 03 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2019/QĐXXST-HS ngày 18/03/2019 đối với bị cáo:
Đặng Thanh Hà, sinh năm 1979 tại thành phố H; Nơi cư trú: Số 110 A7 Tân Mai, phường Tân Mai, quận H,thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Con ông: Đặng Minh Việt và bà Nguyễn Thị Tứ; có vợ là Trịnh Thị Hiền, Nhân thân: Tiền án: Không; Tiền sự: 02.
- Năm 2010 Công an tỉnh Hà Nam bắt cai nghiện 24 tháng.
- Năm 2013, Công an quận H bắt đi cai nghiện bắt buộc 04 năm
Có mặt.
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
KÕt qu¶ biÓu quyÕt nhÊt trÝ 3/3
2. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp nhau, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015
KÕt qu¶ biÓu quyÕt nhÊt trÝ 3/3
3.VÒ t×nh tiÕt t¨ng nÆng tr¸ch nhiÖm h×nh sù: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
KÕt qu¶ biÓu quyÕt nhÊt trÝ 3/3
4. VÒ t×nh tiÕt gi¶m nhÑ tr¸ch nhiÖm h×nh sù: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
KÕt qu¶ biÓu quyÕt nhÊt trÝ 3/3
5. Về điều luật áp dụng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136 ; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Khoản 1 Mục 1 Danh mục án phí lệ phí Tòa án.
KÕt qu¶ biÓu quyÕt nhÊt trÝ 3/3
6. VÒ møc h×nh ph¹t: Bị cáo Đặng Thanh Hà 22 ( Hai mươi hai ) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt quả tang 03/12/2018.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
§Ó ®¶m b¶o thi hµnh ¸n, c¨n cø §iÒu 329 BLTTHS, Héi ®ång xÐt xö quyÕt ®Þnh t¹m giam bÞ c¸o 45 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n.
KÕt qu¶ biÓu quyÕt nhÊt trÝ 3/3
7. C¸c vÊn ®Ò kh¸c : Héi ®ång xÐt xö biÓu quyÕt nhÊt trÝ 3/3 nh÷ng vÊn ®Ò sau:
Về biện pháp tư pháp:
- Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong còn nguyên vẹn bên trong có 02 túi nilong màu trắng có kích thước 01x 1,5cm bên trong chứa chất ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng 0,681 gam .
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, số imei 1:35861087359567; imei 2:358566086781562 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
Nghị án kết thúc vào hồi 10 giờ 00 phút, ngày 29 tháng 03 năm 2019
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Đình Trung