- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Đinh Văn L (tên go ̣i khác: Không)
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 140/2020/HS-ST Ngày 22 - 12 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Cao Văn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Căn và bà Nguyễn Thị Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Tuấn, là Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Toàn, chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2020, tại Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 129/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2020; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2020/HSST-QĐ ngày 07 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:
* Họ và tên: Đinh Văn L (tên gọi khác: không), sinh ngày 21 tháng 01 năm 1995; tại: huyện N, tỉnh Nam Định; nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã H, huyện N, tỉnh Nam Định; chỗ ở: Khu H, phường N, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tô ̣c: Kinh; giớ i tinh: Nam; Tôn giáo:
́ không; Quốc ti ̣ch: Viê ̣t Nam; con ông: Đinh Văn T, sinh năm 1968 và bà Dương Thị T, sinh năm 1968; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt quả tang ngày 31/8/2020, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Đinh Văn L, sinh năm 1983, nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện N, tỉnh Nam Định. Vắng mặt
2. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1980, nơi cư trú: Tổ 3, khu L, phường C, thành phố P, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
* Người làm chứng: Anh Hoàng Đình H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 31/8/2020, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Đinh Văn L gọi điện cho 01 người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) hỏi mua ma túy. Người đàn ông đồng ý bán và hẹn L ra khu vực vòng xuyến thuộc khu H, phường N, thành phố M để giao dịch. L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu NOUVO, biển kiểm soát (BKS) 14H5-2799 đến chỗ hẹn, đưa cho người đàn ông 300.000 đồng, người đàn ông bảo L đứng chờ, đi khoảng 15 phút thì quay lại và ném 01 gói ma túy vào cốp đựng đồ bên trái phía trước đầu xe của L rồi bỏ đi. Sau khi mua được ma túy, khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, L điều khiển xe mô tô đi đến đường L thuộc khu H, phường N để tìm chỗ sử dụng, thì bị Công an thành phố Móng Cái kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Thu giữ của L: 01 gói giấy vệ sinh màu trắng chứa chất bột màu trắng; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu NOUVO, BKS: 14H5-2799; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J4; 01 thẻ căn cước công dân mang tên Đinh Văn L và số tiền 330.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định số 1075/GĐMT ngày 04/9/2020, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật thu giữ của Đinh Văn L gửi giám định là ma túy; Loại Heroine; Khối lượng: 0,164g (không phẩy một sáu bốn gam).
Tại bản cáo trạng số: 135/CT-VKS-MC, ngày 18 tháng 11 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh truy tố Đinh Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Đinh Văn L khai nhận đã thực hiện hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nêu trên.
* Trong phần tranh luận: Đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát trình bày l ời luận tội giữ nguyên quyết đi ̣nh truy tố, đồng thờ i đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử:
- Áp dụng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản1 Điều 51 của Bô ̣ luâ ̣t hinh sự:
̀
Xử pha ̣t: Đinh Văn L từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt: ngày 31/8/2020.
- Về hinh pha ̣t bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
̀
- Về xử lý vâ ̣t chứ ng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy 0,11g (không phẩy một một gam) Heroine, mẫu vật trong niêm phong số 1241/KLGĐ;
+ Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đinh Văn L 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha-Nouvo màu đen, đã qua sử dụng, BKS: 14H5-2799; số khung: RLCN2B560/7Y040726; số máy: 2B56-040726.
+ Tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung J4 màu vàng, ốp lưng điện thoại màu đen; số Imei 1: 353793100778482/01; số Imei 2: 353794100778480/01; bên trong lắp 01 sim số: 0968493294.
+ Trả lại cho bị cáo: 330.000đ (ba trăm ba mươi nghìn đồng) và 01 căn cước công dân số 036095055458 mang tên Đinh Văn L.
Bị cáo không tranh luận gì vớ i lờ i luâ ̣n tô ̣i của đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát.
* Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử giảm nhe ̣ hinh pha ̣t cho bi ̣
̀ cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan đi ều tra Công an thành phố Móng Cái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Nhận định của Hội đồng xét xử về những chứng cứ xác định bị cáo có tội, về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Xét lờ i khai của bi ̣ cáo ta ̣i Cơ quan điều tra và ta ̣i phiên tòa phù hợp vớ i
nhau; phù hợp với lời khai của ngư ời chứng kiến, Biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với vật chứng thu giữ, Kết luâ ̣n giám đi ̣nh cù ng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở k ết luận: Hồi 20 giờ 15 phút ngày 31/8/2020, tại khu vực đường L, khu H, phường N, thành phố M, Đinh Văn L đã có hành vi cất giấu 0,164g (không phẩy một sáu bốn gam) Heroine để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.
Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, xâm phạm đến chế độ của Nhà nước về quản lý các chất ma túy.
Do đó, hành vi như nêu trên của bi ̣ cáo Đinh Văn L đã cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định ta ̣i điểm c khoản 1 Điều 249 của Bô ̣ luâ ̣t hình sự. Vì vậy, Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy đi ̣nh:
“1. Người nào tà ng trữ trá i phé p chất ma tú y mà không nhằ m mục đich
́ mua bá n, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tú y thuộc một trong cá c trườ ng hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:.:
…
c) Heroine…có khối lượng từ 01gam đến dưới 05 gam;
Bị cáo nhận thức rõ về tác hại của ma túy và quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, bị cáo nhận thức được việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng do thiếu ý thức chấp hành pháp luật, nên bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo làm cho tệ nạn mua bán trái phép chất ma túy gia tăng, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm, gây ảnh hưởng xấu đến mọi mặt của đời sống xã hội. Do đó, thấy cần thiết phải đưa bị cáo ra xét xử công khai, xử lý nghiêm và dành cho bị cáo mức án tương xứ ng v ới tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, mới có tác dụng giáo dục và phục vụ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhe ̣ trách nhiệm hình sự quy đi ̣nh tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hinh pha ̣t bổ sung : tại khoản 5 Điều 249 của Bô ̣ luâ ̣t hinh sự quy
̀
̀ định ngườ i pha ̣m tô ̣i còn có thể bi ̣ áp d ụng hình phạt bổ sung phạt tiền. Tuy nhiên, xét bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vâ ̣t chứ ng:
+ Tịch thu tiêu hủy 0,11g (không phẩy một một gam) Heroine, mẫu vật hoàn lại sau giám định đã được niêm phong số 1241/KLGĐ;
+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha-Nouvo màu đen, BKS: 14H5-2799; số khung: RLCN2B560/7Y040726; số máy: 2B56-040726, là tài sản hợp pháp của anh Đinh Văn L ( người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) nên trả lại cho anh Đinh Văn L.
+ 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung J4 màu vàng, ốp lưng điện thoại màu đen; số Imei 1: 353793100778482/01; số Imei 2: 353794100778480/01; bên trong lắp 01 sim số: 0968493294, bị cáo sử dụng chiếc điện thoại vào việc liên lạc mua ma túy, nên cần tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước.
+ 330.000 đồng, do bị cáo lao động mà có không liên quan đến việc phạm tội và 01 căn cước công dân số 036095055458 mang tên Đinh Văn L là giấy tờ tùy thân của bị cáo, nên cần trả lại cho bị cáo.
Về lờ i luâ ̣n tô ̣i của đại diê ̣n Viê ̣n kiểm sát: Xét những chứng cứ mà Kiểm sát viên dùng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được cơ quan điều tra thu thập theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng Hình sự quy định; Tại phiên tòa bị cáo cũng đã thừa nhận thực hiện hành vi như bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Nên lời buộc tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối vớ i bi ̣ cáo là có căn c ứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm : Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo
quy đi ̣nh của pháp luật
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣.t
Liên quan trong vụ án người đàn ông đã bán ma túy cho Đinh Văn L, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo: Đinh Văn L (tên go ̣i khác: Không)
Phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
Xử phạt: Đinh Văn L 15( mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt: ngày 31/8/2020.
2. Về xử lý vâ ̣t chứ ng : Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy 0,11g (không phẩy một một gam) Heroine, mẫu vật sau giám định hoàn lại được niêm phong số 1241/KLGĐ;
+ Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đinh Văn L 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha-Nouvo màu đen, BKS: 14H5-2799; số khung: RLCN2B560/7Y040726; số máy: 2B56-040726.
+ Tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung J4 màu vàng, ốp lưng điện thoại màu đen; số Imei 1: 353793100778482/01; số Imei 2: 353794100778480/01; bên trong lắp 01 sim số: 0968493294.
+ Trả lại cho bị cáo tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam: 330.000đ (ba trăm ba mươi nghìn đồng) và 01(một) căn cước công dân số 036095055458 mang tên Đinh Văn L.
(Vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 18/2021/THA ngày 23 tháng 11 năm 2020, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buô ̣c bi ̣ cáo Đinh Văn L phải nộp 200.000đ (hai trăm nghin đồng) tiền án
̀ phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1 Điều 331, khoản 1,4 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Quảng Ninh;
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa
- VKSND thành phố Móng Cái;
- VKSND tỉnh Quảng Ninh;
- Cơ quan THAHS;
- Cơ quan THADS;
- Thi hành án;
- Bị cáo;
- Người có QLNVLQ;
- Lưu án văn;
Phạm Cao Văn
- Lưu hồ sơ vụ án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thế Căn- Nguyễn Thị Ngọc
Phạm Cao Văn Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Quảng Ninh;
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa
- VKSND thành phố Móng Cái;
- VKSND tỉnh Quảng Ninh;
- Bị cáo;
- Người có QLNVLQ;
- Công an tp Mong Cai;
́
́
- Thi hành án;
- Lưu án văn;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Phạm Cao Văn
5. Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền khá ng cáo bản án trong thờ i ha ̣n
15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Quảng Ninh;
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa
- VKSND thành phố Móng Cái;
- VKSND tỉnh Quảng Ninh;
- Bị cáo;
- Công an tp Mong Cai;
́
́
- Thi hành án;
- Lưu án văn;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Trần Thi ̣ Hồng THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIEN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND thành phố Móng Cái; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Bị cáo; - Công an tp Mong Cai; ́ ́ - Thi hành án; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trần Thi ̣ Hồng |