- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng Thị C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vàng Thị C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA _________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:140/2019/HS-ST Ngày 08 - 8 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tăng Thị Hải Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Chúc và ông Tăng Văn Xiến.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Bình Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hương Mạnh, Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 138/2019/TLST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2019/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vàng Thị C, sinh năm 1955 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Tiểu khu P, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 0/10; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vàng A S (Đã chết) và bà Vừ Thị D (Đã chết); Bị cáo có chồng là Giàng A L (Đã chết) và có 05 con; Tiền án,tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2019 đến nay, có mặt.
Người làm chứng:
- Lường Văn T, vắng mặt.
- Hà Thị H, vắng mặt.
Người phiên dịch: Ông Tráng A L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 11/4/2019, Vàng Thị C đi bộ từ nhà ra đường dân sinh thuộc Tiểu khu P, thị trấn N, huyện M thì gặp, hỏi và mua được của một người đàn ông dân tộc Mông, khoảng 70 tuổi, không quen biết 03 viên Methamphetamine với giá 100.000đ. Sau khi mua được ma túy, C cầm gói ma túy về nhà cất giấu tại đầu giường ngủ của C. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 11/4/2019, Hà Thị H và Lường Văn T đi bộ đến nhà C. Khi gặp C, H đã hỏi và mua được của C một gói nilon màu đỏ bên trong đựng 03 viên Methamphetamine với giá 150.000đ. Sau khi mua được ma túy, H và T cầm gói ma túy đi ra đồi chè thuộc tiểu khu P3, thị trấn N cùng nhau sử dụng. Đến 13 giờ 45 phút cùng ngày, H và T vừa sử dụng hết 03 viên Methamphetamine thì bị tổ công tác Công an huyện Mộc Châu kiểm tra, phát hiện vi phạm, lập biên bản và thu giữ vật chứng gồm: Một chiếc bật lửa ga màu đỏ; một mảnh giấy bạc đã qua sử dụng; một mảnh nilon màu đỏ. Hà Thị H và Lường Văn T khai nhận nguồn gốc số 03 viên Methamphetamine H và T vừa sử dụng hết, là mua của Vàng Thị C. Căn cứ lời khai của Hà Thị H và Lường Văn T, ngày 11/04/2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Mộc Châu đã thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Vàng Thị C. Quá trình bắt giữ tạm giữ của Vàng Thị C: 150.000đ là tiền do C bán ma túy mà có.
Ngày 11/04/2019, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành xét nghiệm ma túy bằng tert thử nhanh đối với Lường Văn T và Hà Thị H. Kết quả kiểm tra xác định Lường Văn T và Hà Thị H đều dương tính với Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số 138/CT-VKSMC ngày 22/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu đã truy tố Vàng Thị C về tội mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vàng Thị C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, áp dụng các căn cứ pháp luật để xử phạt bị cáo như sau:
1. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Vàng Thị C từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 150.000đ thu giữ của Vàng Thị C.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mặt trước phong bì ghi "Vật chứng thu giữ của Lường Văn T, Hà Thị H. Thu giữ ngày 11/4/2019". Bên trong đựng: 01 chiếc bật lửa ga, đã qua sử dụng; 01 Mảnh giấy bạc đã qua sử dụng; 01 Mảnh nilon màu đỏ; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi Test thử ma túy của Hà Thị H, ngày 11/4/2019. Kết quả: Dương tính; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi Test thử ma túy của Lường Văn T, ngày 11/4/2019. Kết quả: Dương tính; 01 vỏ phong bì đã dùng để niêm phong số tiền 150.000đ.
3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tại phiên toà, Vàng Thị C giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì. Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với biên bản vi phạm hành chính ngày 11/4/2019 đối với Lường Văn T và Hà Thị H; lời khai của Lường Văn T, Hà Thị H; lời khai của người chứng kiến; các vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Do vậy, có đủ căn cứ kết luận: Ngày 11/4/2019, Vàng Thị C đã bán trái phép 03 viên Methamphetamine với giá 150.000đ cho Hà Thị H để Hà Thị H và Lường Văn T sử dụng chung. Vàng Thị C được lợi từ việc bán trái phép chất ma túy số tiền 50.000đ. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, quy định phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo nhận thức rõ việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Do vậy, cần quyết định hình phạt nghiêm khắc và phù hợp với hành vi phạm tội nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông, đã bán ma túy cho Vàng Thị C vào ngày 11/4/2019. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lường Văn T và Hà Thị H là hành vi vi phạm hành chính. Ngày 29/6/2019, Công an huyện Mộc Châu đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng pháp luật.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa xét thấy bị cáo không có tài sản gì có giá trị. Do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án
Đối với số tiền 150.000đ thu giữ của Vàng Thị C là tiền do phạm tội mà có, cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với các vật chứng gồm: 01 phong bì niêm phong mặt trước phong bì ghi "Vật chứng thu giữ của Lường Văn T + Hà Thị H. Thu giữ ngày 11/4/2019". Bên trong đựng: 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 Mảnh giấy bạc đã qua sử dụng; 01 Mảnh nilon màu đỏ; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi Test thử ma túy của Hà Thị H, ngày 11/4/2019. Kết quả: Dương tính; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi Test thử ma túy của Lường Văn T, ngày 11/4/2019. Kết quả: Dương tính; 01 vỏ phong bì đã dùng để niêm phong số tiền 150.000đ. Xét là đồ vật để sử dụng chất ma túy, vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét thấy thời hạn tạm giam bị cáo còn lại là 45 ngày, Hội đồng xét xử không ra quyết định tạm giam.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Vàng Thị C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Vàng Thị C 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 11/4/2019.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 150.000đ (Một trăm, năm mươi nghìn đồng chẵn) thu giữ của Vàng Thị C.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mặt trước phong bì ghi "Vật chứng thu giữ của Lường Văn T, Hà Thị H, thu giữ ngày 11/4/2019". Bên trong đựng: 01 chiếc bật lửa ga đã qua sử dụng; 01 Mảnh giấy bạc đã qua sử dụng; 01 Mảnh nilon màu đỏ; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi Test thử ma túy của Hà Thị H, ngày 11/4/2019. Kết quả: Dương tính; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi Test thử ma túy của Lường Văn T, ngày 11/4/2019. Kết quả: Dương tính; 01 vỏ phong bì đã dùng để niêm phong số tiền 150.000đ.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Vàng Thị C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn).
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Mộc Châu; - Công an huyện Mộc Châu; - Chi cục THADS huyện Mộc Châu; - THAHS; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Lưu: hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Tăng Thị Hải Oanh |