vanban.org

Bản án 140/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị N được ly hôn với anh Trần Văn T.

Về con chung: Giao 02 con chung tên Trần Thị Thảo X, sinh ngày 13/6/2009 và Trần Thị Hồng Đ, sinh ngày 05/9/2012 cho anh Trần Văn T nuôi dưỡng. Chị Phạm Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị Phạm Thị N có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị N kiện Trần Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị N được ly hôn với anh Trần Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CL
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 140/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 29/10/2019
V/v tranh chấp: “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CL, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Tâm

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Kế An.

2. Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Hồng Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân huyện CL, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CL, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Truyền, Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CL, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 388/2019/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2019 về việc tranh chấp “Xin ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Phạm Thị N, sinh năm 1990.(có mặt)

Địa chỉ ĐKTT: ấp 3, xã MTB, huyện CL, tỉnh Tiền Giang.

Địa chỉ hiện nay: ấp Đ, xã L, huyện BB, tỉnh Bình Dương

* Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1980. (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp 3, xã MTB, huyện CL, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 23/7/2019, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Phạm Thị N trình bày:

Qua mai mối, chị và anh Trần Văn T tìm hiểu được một thời gian thì kết hôn, đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 07, quyển số 1 ngày 15/4/2009 do Ủy ban nhân dân xã MTB cấp. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T không đi làm, ghen tuông vô cớ, nên vợ chồng thường xuyên cự cãi, anh T nhiều lần đuổi chị ra khỏi nhà. Mâu thuẫn vợ chồng càng trầm trọng, đến tháng 5/2019 chị về nhà cha mẹ ruột sinh sống. Hiện chị không còn tình cảm với anh T. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Trần Văn T.

- Về con chung: có 02 con chung tên Trần Thị Thảo X, sinh ngày 13/6/2009 và Trần Thị Hồng Đ, sinh ngày 05/9/2012. Khi ly hôn, chị đồng ý giao 02 con chung cho anh T nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Tại biên bản hòa giải ngày 19/9/2019, chị N yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn Trần Văn T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện ly hôn, yêu cầu nuôi con của chị Phạm Thị N.

* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CL, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa:

- Về tố tụng: trong quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền, xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự, xác minh thu thập chứng cứ, thụ lý vụ án và tuân thủ đúng thời hạn chuẩn bị xét xử được quy định tại các Điều 26 đến Điều 40; Điều 68; Điều 93 đến Điều 97; Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, thành phần Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng thực hiện theo đúng quy định tại các điều 70, 71, 72 và 234 Bộ luật tố tụng dân sự và không có kiến nghị gì.

- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị N, cho chị N được ly hôn với anh Trần Văn T, giao con chung chưa thành niên tên Trần Thị Thảo X, sinh ngày 13/6/2009 và Trần Thị Hồng Đ, sinh ngày 05/9/2012 cho chị Phạm Thị N nuôi dưỡng, anh T không cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung và nợ chung: không xem xét giải quyết; chị N phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bị đơn Trần Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị N và anh Trần Văn T kết hôn và có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 07, quyển số 1, ngày 15/4/2009 do Ủy ban nhân dân xã MTB cấp, nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Chị Phạm Thị N cho rằng nguyên nhân vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do mâu thuẫn trong cuộc sống, anh T không lo làm ăn, ghen tuông vô cớ, nên vợ chồng thường xuyên cự cãi, anh T nhiều lần đuổi chị ra khỏi nhà. Mâu thuẫn vợ chồng càng trầm trọng, đến tháng 5/2019 chị về nhà cha mẹ ruột sinh sống. Hiện chị không còn tình cảm với anh T. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Trần Văn T.

Bị đơn Trần Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn không có văn bản gì thể hiện ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị N cũng như không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.

Xét, anh Trần Văn T không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng; giữa anh T và chị N không còn sự tôn trọng, yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên chị Phạm Thị N yêu cầu được ly hôn với anh T là hoàn toàn phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

Về con chung: có 02 con chung tên Trần Thị Thảo X, sinh ngày 13/6/2009 và Trần Thị Hồng Đ, sinh ngày 05/9/2012, chị Phạm Thị N yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Trần Văn T cấp dưỡng nuôi con.

Xét, tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm, hai cháu Thảo Xương và Hồng Đào hiện đang do anh Trần Văn T nuôi dưỡng tốt và đang đi học, do đó để hai cháu Thảo Xương, Hồng Đào ổn định cuộc sống, cũng như học tập nên cần tiếp tục giao anh T nuôi dưỡng con chung là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu nuôi dưỡng con chung của chị Phạm Thị N.

Về cấp dưỡng: Anh Trần Văn T không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Nguyên đơn Phạm Thị N trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CL, tỉnh Tiền Giang là có căn cứ một phần.

Về án phí: Chị Phạm Thị N phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các điều 51, 53, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị N được ly hôn với anh Trần Văn T.

- Về con chung: Giao 02 con chung tên Trần Thị Thảo X, sinh ngày 13/6/2009 và Trần Thị Hồng Đ, sinh ngày 05/9/2012 cho anh Trần Văn T nuôi dưỡng. Chị Phạm Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Phạm Thị N có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

- Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Chị Phạm Thị N phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 16945 ngày 30/7/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện CL, tỉnh Tiền Giang, nên xem như đã nộp xong án phí.

Nguyên đơn Phạm Thị N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn Trần Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ