- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm i Khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số:140/2018/HSST Ngày: 04/4/2018 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Trần Thị Minh Hải
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Văn Xây
2. Ông Trần Xuân Viện
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Kao Hoàng,Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 4 năm 2018, tại Hội trường Ủy ban nhân dân phường Chùa Hang, thành phố Thái Nguyên,Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử lưu động công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 146/2018/HSST ngày 15/3/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145 /2018/QĐXXST-HS ngày 22/3/2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Thanh T, tên gọi khác: không; sinh ngày 20 tháng 01 năm 1992; Nơi ĐKHKTT: Tổ Dân phố I, Thị trấn H, huyện Đ, tỉnh T; Chỗ ở: Xóm S, xã Q, Thành phố T, tỉnh T; Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đình T, sinh năm 1971, con bà Tạ Thị D, sinh năm 1972; Có chồng: Bùi Quốc T, sinh năm 1982, có 01 con sinh năm 2011.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/01/2018 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên;
(Có mặt tại phiên toà).
Người chứng kiến:1/ Anh Vũ Ngọc Q (Vũ Ngọc K), sinh năm 1978, trú tại: Tổ 4, phường T, thành phố T, tỉnh Tn. (Vắng mặt tại phiên tòa)
2/Anh Nguyễn Thế T, sinh năm 1965, trú tại: Xóm S, xã Q, thành phố T, tỉnh T. (Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 30/01/2018, tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Thái Nguyên làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 04, phường T, thành phố T phát hiện 01 nữ giới, mặc áo khoác màu đen điều khiển xe môtô BKS: 20F1-053.95 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, đối tượng nữ giới tự khai tên là Vũ Thanh T. Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện, thu giữ 01 gói nilon màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 01gói nilon màu trắng, bên trong có 10 viên nén màu hồng được lấy từ lòng bàn tay trái của T; 06 gói nilon màu trắng bên trong mỗi gói đều chứa chất tinh thể màu trắng và 01 gói nilon màu trắng bên trong có 05 viên nén màu hồng được lấy từ túi áo bên trái phía trước T đang mặc (T khai là ma túy tổng hợp). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang với T và niêm phong thu giữ vật chứng.
Hồi 14 giờ 00 phút ngày 30/01/2018, Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Thanh T ở xóm S, xã Q, thành phố T phát hiện thu giữ: 01 (một) gói nilon màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng phát hiện thu giữ tại ngăn kéo bàn gỗ kê tại phòng khách; 01 túi nilon màu xanh bên trong chứa 27 viên nén màu hồng, 07 (bảy) gói nilon màu trắng bên trong các gói đều chứa chất tinh thể màu trắng phát hiện thu giữ tại góc bếp, phía bên phải hướng nhìn từ ngoài vào; 02 (hai) gói nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng phát hiện thu giữ tại ngăn giữa tủ lạnh kê tại gian bếp; 01 (một) cân điện tử, vỏ nhựa màu đen, nhãn hiệu Pocket – Scale, phát hiện thu giữ tại góc bếp, phía bên phải hướng nhìn từ ngoài vào; 31 (ba mươi mốt) túi nilon màu trắng, kích thước 4x6cm.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong cân xác định: số chất tinh thể màu trắng và số viên nén màu hồng thu giữ của Vũ Thanh T khi bắt quả tang có trọng lượng 2,302 gam, số chất tinh thể màu trắng và số viên nén màu hồng thu giữ của Vũ Thanh T khi khám xét có trọng lượng 14,995 gam.
Tại bản kết luận giám định số 351/KL-PC54 ngày 06/02/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận chất tinh thể màu trắng trong các mẫu A1, B1, T4, T5, T6 thu giữ của Vũ Thanh T là chất ma túy, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng chất tinh thể màu trắng thu giữ là: 13,459 gam.
Viên nén màu hồng trong các mẫu A2, B2, T7 thu giữ của Vũ Thanh T là chất ma túy, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng các viên nén màu hồng thu giữ là: 3,838 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Vũ Thanh T khai nhận: Khoảng 12 giờ 45 phút ngày 30/01/2018, T đi xe môtô BKS: 20F1-05395 từ nhà tại xóm S, xã Q, thành phố T đến khu vực trung tâm thành phố Thái Nguyên với mục đích để bán ma túy. Nhưng khi T đến khu vực tổ 04, phường T thành phố T, T chưa kịp bán ma túy cho ai thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma tuý như nêu trên. Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang và khi khám xét T khai mua của một người đàn ông tên là Phạm Huy H (sinh năm 1979, trú tại: tổ 11, phường Đ, thành phố T) tại khu vực đường tàu thuộc phường Đ, thành phố T với giá 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) vào ngày 24/01/2018 mục đích để bán lẻ kiếm lời.
Lời khai nhận của Vũ Thanh T phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định.
Vật chứng của vụ án:
- 07 (bảy) bì niêm phong ký hiệu A1, A2, B1, B2, T5, T6, T7; 01 Cân điện tử, vỏ nhựa màu đen, nhãn hiệu Pocket – Scale; 31 (Ba mươi mốt) túi nilon mầu trắng, kích thước 4 X 6 cm . Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 152/CT-VKSTPTN ngày 13/3/2018 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã quyết định truy tố Vũ Thanh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.
Kết thúc phần thẩm vấn, tại phần tranh luận, vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giữ quyền công tố đã công bố bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ Thanh T phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”
Áp dụng Điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Vũ Thanh T từ 07 đến 08 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu, tiêu hủy: 07 (Bẩy) bì niêm phong ký hiệu A1, B1, T5, T6, A2, B2, T7; 01 Cân điện tử, vỏ nhựa màu đen, nhãn hiệu Pocket – Scale; 31 (Ba mươi mốt) túi nilon mầu trắng, kích thước 4 X 6 cm.
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Thanh T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
.Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Vũ Thanh T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là khách quan phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, với vật chứng đã thu được, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ xác định: Do có mục đích bán ma túy để kiếm lời nên ngày 24/01/2018, Vũ Thanh T đã đi mua 17,297 gam Methamphetamine với giá 9.000.000 đồng về cất giấu tại nhà ở xóm S, xã Q, thành phố Thái Nguyên để bán dần. Hồi 13 giờ ngày 30/01/2018, khi T đang điều khiển xe môtô BKS: 20F1-05395 mang theo 2,302 gam Methamphetamine đi bán nhưng khi đến khu vực tổ 04, phường Tân Thịnh, thành phố Thái Nguyên chưa kịp bán cho ai thì bị phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng. Còn14,995 gam Methamphetamine T cất giấu ở nhà thì bị thu giữ khi khám xét chỗ ở.
Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.
.Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Vũ Thanh T về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Nội dung điều 251 quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
....
i) ... Methamphetamine ... có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam”.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
.Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước gây mất trật tự trị an xã hội, bị cáo nhận thức rõ được tác hại của ma túy làm nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội, làm khánh kiệt về kinh tế mà bị cáo vẫn đi mua ma túy mục đích để bán lại cho người khác kiếm lời, đã dẫn bị cáo tới con đường phạm tội.
5].Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau:Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình do đó bị cáo được hưởng tình tiết tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ Luật hình sự năm 2015.
. Về hình phạt: Để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, nên xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo tốt sớm trở về với gia đình và xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
. Về hình phạt bổ sung:Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích thu lời bất chính lẽ ra bị cáo bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, tuy nhiên qua xác minh và lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo .
Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là phù hợp.
. Về vật chứng vụ án: Cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu, tiêu hủy: 07 (Bẩy) bì niêm phong ký hiệu A1, B1, T5, T6, A2, B2, T7; 01 Cân điện tử, vỏ nhựa màu đen, nhãn hiệu Pocket – Scale; 31 (Ba mươi mốt) túi nilon mầu trắng, kích thước 4 X 6 cm.
.Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
. Các vấn đề khác:
Trong vụ án này, theo Vũ Thanh T khai mua ma túy của Phạm Huy H, sinh năm 1979, trú tại: tổ 11, phường Đ, thành phố T. Quá trình điều tra không đủ căn cứ xác định Hồng là người bán ma túy cho T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên sẽ điều tra làm rõ để xử lý sau.
Đối với chiếc xe môtô mang BKS: 20F1-05395 do Vũ Thanh T sử dụng vào ngày 30/01/2018, hiện chưa làm rõ được chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tách phần tài liệu, hồ sơ liên quan đến chiếc xe môtô để làm rõ xử lý sau.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
-Điểm i Khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;
1/ Tuyên bố : Bị cáo Vũ Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
- Xử phạt Vũ Thanh T 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 30/01/2018.
- Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2/ Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
3/ Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự , Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015: Tịch thu, tiêu hủy: 07 (Bẩy) bì niêm phong ký hiệu A1, B1, T5, T6, A2, B2, T7; 01 Cân điện tử, vỏ nhựa màu đen, nhãn hiệu Pocket – Scale; 31 (Ba mươi mốt) túi nilon mầu trắng, kích thước 4 X 6 cm.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 177 ngày 28/02/2018 và số 210 ngày 29/3/2018 giữa Công an thành phố Thái Nguyên và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên;
4/Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Vũ Thanh T phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm,có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Thái Nguyên; - Công an TP. Thái Nguyên; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - THADS TP. Thái Nguyên; - THA phạt tù; - Bị cáo; - UBND thị trấn Hùng Sơn, huyện Đại Từ,Tỉnh Thái Nguyên. - UBND xã Q, TP.Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Trần Thị Minh Hải |