- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy: Tuyên bố: Đỗ Đăng Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 140/2018/HSST Ngày: 29/8/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Tuân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Quý
2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Lệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Kim Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Thanh - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 1.
Ngày 29 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 112/2018/TLST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 639/2018/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:
Đỗ Đăng Đ, sinh ngày 12 tháng 8 năm 1975, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 392/16/52 đường Cao Thắng, Phường X, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; con ông Đỗ Đăng T và bà Phạm Thị B; chưa có vợ con; tiền án: Ngày 31/7/2007 bị Tòa án nhân dân Quận 10 xử phạt 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số: 125/2007/HSST. Tổng hợp hình phạt với bản án số: 257/2006/HSST ngày 01/9/2006 của Tòa án nhân dân Quận 8 thì bị cáo phải chấp hành chung của 02 bản án là 09 năm tù; tiền sự: Ngày 27/7/2016 bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Đăng Đ tại Trung tâm giáo dục lao động – tạo việc làm tỉnh Bình Dương trong thời gian 24 tháng theo quyết định số 176/2016/QĐ-TA; nhân thân: Ngày 19/3/2001 Tòa án nhân dân Quận 10 xử phạt 24 tháng 03 ngày tù về tội “Cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân” theo bản án số: 115/HS-ST; ngày 19/3/2001 Tòa án nhân dân Quận 10 xử phạt 42 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số: 53/HS-ST; ngày 01/9/2006 bị Tòa án nhân dân Quận 8 xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số: 257/2006/HSST; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/4/2018 tại nhà tạm giữ Công an Quận 1. (có mặt) Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1956 Nơi cư trú: Ấp X, xã Y, huyện F, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 01 giờ ngày 19/4/2018 Đỗ Đăng Đ điều khiển xe gắn máy biển số: 66H9-8961 đến đường Sư Vạn Hạnh, Quận 10 mua 08 gói nylon chứa ma túy tổng hợp của một người phụ nữ tên Linh không rõ lai lịch, với giá 1.300.000 đồng. Sau khi mua Đ cất 07 gói vào bóp nhỏ màu đen dùng làm móc chìa khóa xe gắn máy và 01 gói vào bóp da cá nhân màu nâu để trong túi quần phía sau bên phải rồi điều khiển xe máy đến trước nhà số: 245/35 đường Nguyễn Trãi, phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1 để đợi bạn. Khi đang dừng xe thì bị các trinh sát Đội Cảnh sát hình sự Công an Quận 1 đi tuần tra, yêu cầu kiểm tra và phát hiện Đ cất giữ số ma túy trên, Đ khai là ma túy tổng hợp để sử dụng cho bản thân nên tiến hành thu giữ vật chứng và lập biên bản xử lý. Tại cơ quan điều tra, Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Theo bản kết luận giám định số: 772/KLGĐ-H ngày 27/4/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 02 gói được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Đỗ Đăng Đ và hình dấu Công an phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1 gửi đến giám định bên trong có:
- Gói 1: Tinh thể màu trắng trong 01 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2636g, loại Methamphetamine.
- Gói 2: Tinh thể màu trắng trong 07 gói nylon (để trong 01 gói nylon) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,6858g, loại Methamphetamine. Bản cáo trạng số: 118/CT-VKSNDQ1 ngày 02/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đã truy tố bị cáo Đỗ Đăng Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh tụng: Sau khi kiểm tra đầy đủ các chứng cứ buộc tội, gỡ tội và các tình tiết khác của vụ án, bị cáo đã thừa nhận hành vi sai trái do bị cáo gây ra tương tự như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 5; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù, phạt tiền bị cáo 5.000.000 (năm triệu) đồng.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy 02 (hai) gói niêm phong ghi vụ số 772/18/Q1 có chữ ký của Thiếu tá Võ Anh T chứa chất ma túy (mẫu vật còn lại sau khi sử dụng phục vụ công tác giám định); 01 (một) bóp da màu đen làm móc chìa khóa; 01 (một) bóp da màu nâu; 01 (một) biển số: 66H9-8961 giả cần tịch thu, tiêu hủy.
- Tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel, số Imei: 352068097594601.
- Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, số Imei 1: 866346033959032, số Imei 2: 866346033959024, nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án sau này.
- Tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu đối với xe gắn máy, số máy: VZS152FMH518208, số khung: RLPDCHBUMAB003208 trên các phương tiện thông tin đại chúng, hết thời hạn trên không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đến nhận xe thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đỗ Đăng Đ đã khai nhận hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh tụng gì và nói lời sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như các biên bản hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, bản tường trình, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định,… nên có căn cứ để kết luận bị cáo Đỗ Đăng Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, với khối lượng là 1,9494g (một phẩy chín bốn chín bốn gam) ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Đỗ Đăng Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội. [2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với quyết tâm cao. Bị cáo đủ nhận thức để biết rõ về tác hại của ma túy nhưng vì muốn thỏa mãn với động cơ cá nhân của mình nên bất chấp xem thường pháp luật của Nhà nước cố tình phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến chế độ quản lý độc quyền về các chất gây nghiện của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, bị cáo có nhân thân rất xấu, có tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy lại có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích mà bị cáo lại tiếp tục thực hiện phạm tội thể hiện thái độ xem thường pháp luật đồng thời thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự nên cần có mức án nghiêm khắc để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. [4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. [5] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải nộp một khoản tiền nhất định để sung quỹ Nhà nước. [6] Đối với người phụ nữ tên Linh không rõ lai lịch, là người bán ma túy cho Đắc, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch, cơ quan điều tra Công an Quận 1 tiếp tục xác minh làm rõ có cơ sở xử lý sau. [7] Vật chứng của vụ án:
- Đối với 02 (hai) gói niêm phong ghi vụ số 772/18/Q1 có chữ ký của Thiếu tá Võ Anh T chứa chất ma túy (mẫu vật còn lại sau khi sử dụng phục vụ công tác giám định); 01 (một) bóp da màu đen làm móc chìa khóa; 01 (một) bóp da màu nâu; 01 (một) biển số: 66H9-8961 giả cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel, số Imei: 352068097594601 Đ sử dụng để liên lạc trong việc mua ma túy cần tịch thu, sung quỹ Nhà nước.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, số Imei 1: 866346033959032, số Imei 2: 866346033959024 thu giữ của Đ, xét thấy không liên quan đến vụ án cho nên cần xem xét trả lại cho bị cáo, nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án sau này.
- Đối với 01 (một) xe gắn máy biển số: 66H9-8961, số máy: VZS152FMH518208, số khung: RLPDCHBUMAB003208 thu giữ của Đ. Qua giám định số máy, số khung nguyên thủy không thay đổi; xác minh biển số xe: 66H9-8961 do ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1956, nơi cư trú: Ấp X, xã Y, huyện F, tỉnh Đồng Tháp đứng tên đăng ký xe gắn máy hiệu Yumati với số máy: FMH-011337, số khung: 5A-011337 không trùng với xe gắn máy có số máy, số khung bị thu giữ, ông L khai nhận đã bán xe máy trên khoảng tháng 10/2006 nhưng không nhớ bán cho ai. Qua xác minh số máy: VZS152FMH518208, số khung: RLPDCHBUMAB003208 Phòng cảnh sát giao thông Công an Thành phố Hồ Chí Minh không tìm thấy dữ liệu trên hệ thống, Đắc khai xe trên mượn của người bạn tên Tuấn không rõ lai lịch để sử dụng. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu nên yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiếp tục thông báo tìm kiếm chủ sở hữu trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng, hết thời hạn trên không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đến nhận xe thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy: Tuyên bố: Đỗ Đăng Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; phạt bị cáo Đỗ Đăng Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/4/2018.
Buộc bị cáo Đỗ Đăng Đ phải nộp phạt 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước. Việc bị cáo nộp số tiền phạt nêu trên phải được thực hiện một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) gói niêm phong ghi vụ số 772/18/Q1. (Theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 181/PNK ngày 08/6/2018 của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh) Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bóp da màu đen làm móc chìa khóa; 01 (một) bóp da màu nâu; 01 (một) biển số: 66H9-8961 giả. Tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel, số Imei: 352068097594601. Trả lại cho bị cáo Đỗ Đăng Đ 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, số Imei 1: 866346033959032, số Imei 2: 866346033959024, nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án sau này. Giao 01 (một) xe gắn máy, số máy: VZS152FMH518208, số khung: RLPDCHBUMAB003208 cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền thông báo tìm kiếm chủ sở hữu trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng, hết thời hạn trên không có chủ sỡ hữu hoặc người quản lý hợp pháp đến nhận xe thì tịch thu sung quỹ Nhà nước. (Theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 153/PNK ngày 09/5/2018 của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh) Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Đỗ Đăng Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền phải thi hành án, hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015. Áp dụng Điều 26 Luật thi hành án dân sự; trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP. HCM; - VKSND TP. HCM; - VKSND Quận 1, TP. HCM; - Chi cục THADS Quận 1, TP. HCM; - Công an Quận 1, TP. HCM; - Phòng PC 53; - Sở Tư pháp TP. HCM - Bị cáo; - Người có QLNV liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Huỳnh Ngọc Tuân |