vanban.org

Bản án 140/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Thanh Xuân, TP. Hà Nội Tuyên án 26/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THANH XUÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 140/2018/HSST
Ngày: 26/9/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị An

- Các Hội thẩm nhân dân :

Ông Đỗ Quang Linh

Bà Chu Thị Tuyết

- Thư ký phiên tòa: Bà Từ Ngọc Thúy - Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Xuân.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Ninh - Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 136/2018/TLST - HS ngày 27 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa ra xét xử số 191/2018/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

LÊ VIỆT D, sinh năm 1985, ĐKHKTT: số X, tập thể Y, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội và chỗ ở: Số X, ngõ Y Nguyễn Văn Cừ, phường Gia Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê V và bà Nguyễn Thị Hồng H, tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 18/7/2018 Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố xử phạt bị cáo 26 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy; Nhân thân: 02 tiền sự (đã xóa) và ngày 20/10/2004 Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội xử phạt bị cáo 26 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (đã xóa án tích). Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/5/2018 tại trại giam số II - Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 12/5/2018, Lê Việt D đi xe ôm từ khu vực Gia Lâm đến khu vực quận Thanh Xuân, Hà Nội với mục đích mua ma túy để sử dụng. Khi đến đầu ngõ X đường Nguyễn Trãi, quận Thanh Xuân, Hà Nội, D xuống xe và ngồi uống nước tại một quán nước vỉa hè đầu ngõ. Tại đây D gặp một người đàn ông không quen biết và nhờ người đàn ông này mua hộ 01 gói ma túy Heroin với giá 100.000đồng. Sau đó D mua 01 xi lanh và 01 lọ nước cất ở hiệu thuốc gần đó để sử dụng ma túy và ngồi đợi ở quán nước. Khoảng 30 phút sau người đàn ông trên quay lại và đưa cho D 01 gói giấy màu trắng bên trong có ma túy Heroin, D cất gói ma túy cùng với xi lanh và lọ nước cất ở trong túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi bộ tìm nơi sử dụng. Khi D đi bộ đến đầu ngõ X Nguyễn Trãi, phường Thanh Xuân Nam, quận Thanh Xuân, Hà Nội thì bị cơ quan công an yêu cầu kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra hành chính D đã tự giác lấy từ trong túi quần của mình ra 01 gói ma túy cùng xi lanh và lọ nước cất giao nộp cho cơ quan công an. Sau đó cơ quan công an đã đưa D cùng toàn bộ tang vật về trụ sở để làm rõ.

Cơ quan công an đã thu giữ của Lê Việt D: 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng, 01 xi lanh, 01 lọ nước cất chưa qua sử dụng.

Tại cơ quan điều tra, Lê Việt D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại bản Kết luận giám định số 4749/KLGĐ- PC 54 ngày 18/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói ma túy loại Heroin, khối lượng 0,108 gam.

Tại Cáo trạng số 143/CT- VKS ngày 22/8/2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố bị cáo Lê Việt D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đã nêu, sau khi phân tích đánh giá tính chất mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Việt D từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp với bản án số 135/2018/HSST ngày 18/7/2018 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Hà Nội xử phạt bị cáo 08 tháng tù, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là từ 23 tháng tù đến 26 tháng tù. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,108 gam Heroin, 01 xi lanh và 01 lọ nước cất thu giữ của bị cáo và không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Bị cáo đề nghị được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến luận tội của kiểm sát viên, lời khai nhận tội của bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Xuân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Qua xét hỏi và tranh luận tại phiên toà bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 12/5/2018, Lê Việt D đi xe ôm từ khu vực Gia Lâm đến khu vực quận Thanh Xuân, Hà Nội và nhờ một người đàn ông không quen biết mua hộ 01 gói ma túy với giá 100.000đồng. Khi D đi bộ đến đầu ngõ 469 Nguyễn Trãi, phường Thanh Xuân Nam, quận Thanh Xuân, Hà Nội thì bị cơ quan công an yêu cầu kiểm tra hành chính, D đã tự giác lấy từ trong túi quần của mình ra một gói ma túy là Heroin có lượng là 0,108 gam, D khai mua về với mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Việt D đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây hậu quả xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội; gây mất trật tự trị an xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nghiêm trọng khác. Nhân thân bị cáo có 02 tiền án (trong đó 01 tiền án chưa được xóa án tích) nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần phải có hình phạt tù nghiêm cách ly bị cáo ra khởi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như đáp ứng nhu cầu đấu tranh phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Vì vậy có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hiện bản án số 135/2018/HSST ngày 18/7/2018 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Hà Nội xử phạt bị cáo 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án đã có hiệu lực pháp luật, nên cần áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.

Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với lượng 0,108 gam Heroin, thu giữ của bị cáo đây là vật cấm lưu hành và 01 ống xi lanh, 01 ống nước cất không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc ma túy, D khai mua nhờ một người đàn ông không quen biết tên tuổi địa chỉ mua hộ. Quá trình điều tra không làm rõ được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý. Nên Tòa không xét.

Vì các lẽ trên;

QuyÕt §Þnh

Tuyên bố: Bị cáo Lê Việt D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Lê Việt D 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, tổng hợp hình phạt của bản án số 135/2018/HSST ngày 18/7/2018 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Hà Nội xử phạt bị cáo 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nên buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 01 (một) năm 11 (mười một) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/5/2018.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 3, khoản 1 Điều 21, 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và điểm 1 khoản I mục A - Danh mục án phí, lệ phí Tòa án;

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì dán kín, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Vũ Việt Cường, cán bộ Công an phường Lê Quang Xuân cùng với hình dấu của Công an phường Thanh Xuân Nam và đối tượng Lê Việt D, bên trong có 0,108 gam Heroin ( Thu mẫu giám định 0,021gam).

Hiện các vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. (Biên bản giao nhận vật chứng ngày24/9/2018).

Bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhËn:

Cỡ chữ