- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm “ Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI ----------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 140/2018/HSST Ngày 13 tháng 6 năm 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Huyền Nga
2 Bà Nguyễn Thị Tuyết Trang
- Thư ký phiên toà : Bà Phạm Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hai Bà
Trưng, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hương - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 13 tháng 6 năm 2018 trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 151/2018/ HSST ngày 01 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Phạm Văn T, Sinh năm: 1974; HKTT + Chỗ ở: phường M, quận H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: không; Văn hóa: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Đặng Bá T (đã chết) và bà:Phạm Thị H; Tiền án, tiền sự :02 tiền án
- Ngày 20/10/1998, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt Phạm Văn T 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (chưa đóng án phí)
- Ngày 08/01/1999, Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử 24 tháng tù về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Buộc T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 36 tháng tù ( chưa xóa án tích vì chưa đóng án phí và chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung). Nhân thân:
- Năm 1997,Công an phường Bạch Đằng xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.
-17/01/2002 : TAND thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm tuyên phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và 09 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 24/05/2002, Tòa phúc thẩm tại Hà Nội- Tòa án nhân dân tối cao xét xử phúc thẩm tuyên phạt 07 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy và 08 năm tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy(đã xóa án tích).
Danh chỉ bản số 197 ngày 17/4/2018 do Công an quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội lập. Bị bắt quả tang ngày 16/04/2018, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội.
Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 15/04/2018, do nghiện ma túy , Phạm Văn T đi bộ lang thang ra khu vực ngã tư Đại La- Trần Đại Nghĩa –phường Trương Định, quận Hai Bà Trưng , Hà Nội để tìm mua ma túy về sử dụng. tại đây, T gặp và mua 01 gói ma túy “đá” và 01 gói ma túy “Katemin” của một phụ nữ tên Ly (là bạn xã hội) với giá 1.000.000đồng. Sau đó, T cất số ma túy vừa mua được vào túi quần nhỏ phiá trước bên phải T đang mặc. Đến khoảng 1 giờ ngày 16/04/2018, khi đi đến khu vực đầu ngõ Thống Nhất, phố Đại La, phường Trương Định, Hà Nội thì T bị tổ công tác công an phường Trương Định kiểm tra hành chính, phát hiện thu giữ số ma túy trên( T tự khai là ma túy đá và Ketamine). Tổ công tác đã lập biên bản và đưa T cùng tang vật về trụ sở để làm rõ. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của T 01 chiếc điện thoại di động Nokia 215 màu đen, đã qua sử dụng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hai Bà Trưng đã ra quyết định trưng cầu giám định số ma túy thu giữ của Phạm Văn T. Tại kết luận giám định số 3643/KLGĐ-PC54 ngày 23/04/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nilong là ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,866gam; : Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nilong là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,272 gam.
Tại cơ quan điều tra, Phạm Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 215 qua xác minh là tài sản riêng của T không liên quan đến việc mua bán ma túy.
Cơ quan Công an đã dẫn giải T đến khu vực mua ma túy, T xác định được địa điểm mua bán ma túy nhưng không xác định được người phụ nữ tên Ly đã bán ma túy cho T nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, xử lí.
Tại bản cáo trạng số 139/CT-VKSHBT-HS ngày 28 tháng 5 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Phạm Văn T về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 xử phạt bị cáo Phạm Văn T với mức án từ 30 đến 36 tháng, tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý thu giữ của bị cáo, trả lại bị cáo điện thoại Nokia.
Bị cáo Phạm Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi , Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, có đủ cơ sở kết luận: khoảng 01 giờ ngày 16/4/2018, tại khu vực đầu ngõ Thống Nhất, phố Đại La, phường Trương Định, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Phạm Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,272 gam Methamphetamine và 0,866 gam Ketamine thì bị bắt.
Hành vi của bị cáo xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về việc quản lý chất ma tuý. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng vẫn cố ý thực hiện. Tại phiên toà bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo bản cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015. Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có nhân thân xấu, có 03 tiền án, trong đó có 02 tiền án chưa được xóa vì chưa đóng án phí và hình phạt bổ sung, phạm tội lần này là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015, nên phải có hình phạt nghiêm khắc với bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Phạm Văn T đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi. Do đó cần cho bị cáo Phạm Văn T hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
* Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản…”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, điều kiện kinh tế khó khăn, nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
* Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của bị cáo.
Trả lại bị cáo chiếc điện thoại Nokia vì đó là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội.
* Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm “ Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt: Phạm Văn T 26 (hai sáu) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 16/4/2018.
* Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015;
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì giấy trong đã được niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Phạm Văn T ,
- Trả lại bị cáo Phạm Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 215, Imei1: 358578060007443, Imei2: 358578060007450.
Các vật chứng trên hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/5/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội và Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.
* Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; điều 23 nghị quyết 326/2016 /UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo:
Áp dụng các Điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
ThÈm ph¸n – Chñ täa phiªn tßa
C¸c héi thÈm nh©n d©n
L ¬ng ThÞ Thu Hµ