vanban.org

Bản án 140/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 02/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Căn cứ khoản 1 Điều 145 Bộ luật hình sự, tuyên bố: Bị cáo Lƣơng Văn H phạm tội Giao cấu với ngƣời từ đủ 13 đến dƣới 16 tuổi.

Xử phạt bị cáo Lƣơng Văn H 24 ( hai mƣơi bốn ) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng - Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 02/10/2018. Giao bị cáo Lƣơng Văn H cho Uỷ ban nhân dân xã Chiềng Khoong, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La giám sát và giáo dục trong … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn Huỳnh giao cấu với Lường Thị Phỏng - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dư…"
  • Tòa quyết gì? 1- Căn cứ khoản 1 Điều 145 Bộ luật hình sự, tuyên bố: Bị cáo Lƣơng Văn H phạm tội Giao cấu với ngƣời từ đủ 13 đến dƣới 16 tuổi.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 140/2018/HSST
Ngày 02 tháng 10 năm 2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Toàn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tòng Văn Bình

2. Ông Nguyễn Thế Chung

- Thư ký phiên toà:

Ông Bùi Quang Hùng - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà:

Ông Dƣơng Văn Nam - Kiểm sát viên

Ngày 02 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 127/2018/HSST ngày 07 tháng 8 năm 2018, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 142/2018/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lương Văn H - Sinh ngày 15/3/1995; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Bản H, xã C, huyện S, Sơn La; Dân tô ̣c: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Trồng trọt ; Trình độ văn hóa: 9/12; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Lƣơng Văn Q, con bà Trần Thị O; Bị cáo chƣa có vợ con; Tiền sƣ̣, tiền án : Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/5/2018, đến ngày 08/5/2018 đƣợc thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cƣ trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Ngƣời bị hại: Lƣờng Thị P Địa chỉ: Bản L, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

Ngƣời đại diện: Ông Lƣờng Văn B ( là bố đẻ ) - Sinh năm 1975.

Địa chỉ: Bản L, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 20 giờ ngày 04/10/2017 Lƣờng Thị P trú tại bản L, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La đến phòng trọ của chị Lù Thị T và Quàng Thị P ở Tổ dân phố 4, thị trấn S chơi, tại đây P có gặp Hà Thị T ( ở huyện T, tỉnh l ), khi đang ngồi nói chuyện thì P bảo có việc rồi đi ra ngoài. Lúc này T bảo với T và P là có hai thanh niên rủ đi hát karaoke, P và T nhất trí đi cùng. Đến khoảng 21h cùng ngày Lƣờng Văn H và Lƣơng Văn P ( là hai anh ruột ) cùng Phạm Văn H, Phạm Văn T, Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn Đ rủ nhau đến quán Karaoke DMAX ở bản Hƣng Mai để hát, xã Nà Nghịu để hát, trƣớc khi đi Lƣơng Văn P gọi điện cho Lù Thị T ( là chị dâu ) rủ T đi hát cùng, T đồng ý rồi đi xe mô tô sang quán hát trƣớc, sau đó bảo Lƣơng Văn P và Phạm Văn T quay lại phòng trọ của T đón Lƣờng Thị P và Hà Thị T.

Quá trình hát tại quán thì mọi ngƣời đều có dùng rƣợu, Lƣờng Văn H có mời Lƣờng Thị P rƣợu và có hỏi tên tuổi, địa chỉ của P, P giới thiệu tên là Q sinh năm 2000 nhà ở bản L, xã C. Đến khoảng 00 giờ ngày 05/10/2017 cả nhóm nghỉ hát, P thấy hơi say nên xin phép về trƣớc, H liền mƣợn xe mô tô của T để đƣa P về phòng trọ của T. Khi đến phòng trọ H và P hôn nhau tại giƣờng ngủ trong phòng, sau đó cởi quần của P để quan hệ tình dục, lúc H quan hệ P không có chống cự gì, trong lúc H đang quan hệ P có hỏi H “ làm thế này có cho em tiền không ”, H vừa quan hệ vừa trả lời “ làm xong anh cho” rồi tiếp tục quan hệ, sau đó xuất tinh vào trong âm hộ của P. Lúc này H nhận đƣợc điện thoại của T bảo H mang xe đến đón, khoảng 05 phút sau thì H đón T về đến phòng trọ, lúc đó có cả P, T và T cùng về. Do trời mƣa nên mọi ngƣời cùng ngủ lại phòng trọ; P, T, T cùng nằm trên giƣờng còn H và P dải chiếu nằm dƣới nền nhà. Đến khoảng 02 giờ cùng ngày anh Lƣờng Văn K là chủ phòng trọ thấy mọi ngƣời đến phòng trọ chơi đã khuy rồi mà chƣa về nên có gọi cửa để kiểm tra, lúc này giữa H và anh K đã xảy ra mâu thuẫn dẫn đến đánh nhau làm anh K bị thƣơng tích, anh Kđã trình báo đến Công an huyện.

Ngay sau sự việc xảy ra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã tiến hành phối hợp lấy lời khai của các bên liên quan, khám nghiệm hiện trƣờng và đƣa Lƣờng Thị P đi khám sản. Tại Giấy chứng nhận thƣơng tích số 08/CN-BVĐK ngày 05/10/2017 của Bệnh viện đa khoa huyện Sông Mã đối với Lƣờng Thị P đã xác định về tình trạng lúc nhập viện: Tỉnh, tiếp xúc tốt, toàn thân không có vết xây xƣớc bầm tím; Thử HCG: Âm tính; Khám sản: Âm hộ bình thƣờng, màng trinh đã rách cũ, đã liền sẹo vị trí 3h, 5h, 12h, 8h, 9h. Âm đạo có nhiều dịch đục mùi hôi, cổ tử cung viêm lộ tuyến, tử cung nhỏ.

Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã đã tiến hành thu giữ chất dịch trong âm đạo của Lƣờng Thị P và lấy mẫu tóc của Lƣơng Văn Hđể giám định ADN. Tại kết luận giám định số 5121/C54(TT3) ngày 29/11/2017 của Viện khoa học hình sự Tổng cục cảnh sát kết luận: Trong mẫu ghi thu dịch trong âm hộ của Lƣờng Thị P có tinh trùng ngƣời và là tinh trùng của Lƣơng Văn H.

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 87/CT-VKS ngày 05 tháng 8 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trƣớc Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Lƣơng Văn H về tội Giao cấu với ngƣời từ đủ 13 tuổi đến dƣới 16 tuổi, theo quy định tại khoản 1 Điều 145 BLHS.

Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Giao cấu với ngƣời từ đủ 13 đến dƣới 16 tuổi, áp dụng khoản 1 Điều 145; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo từ 24 - 36 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 48 - 60 tháng. Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy vật chứng. Chấp nhận việc bồi thƣờng giữa gia đình bị cáo và gia đình ngƣời bị hại. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định.

Tại phiên tòa khi đƣợc nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi của mình đã vi phạm pháp luật, việc Tòa án đƣa bị cáo ra xét xử là không oan, sai. Bị cáo đề nghị Tòa án xem xét cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng:

Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thủ tục tố tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hành vi phạm tội của bị cáo đƣợc chứng minh bằng các căn cứ sau:

- Biên bản khám nghiệm hiện trƣờng lập vào hồi 09 giờ ngày 05/10/2017 khám nghiệm hiện trƣờng phòng trọ mà Lƣơng Văn H đã giao cấu với Lƣờng Thị P;

- Giấy chứng nhận thƣơng tích số 08/CN-BVĐK ngày 05/10/2017 của Bệnh viện đa khoa huyện Sông Mã đối với Lƣờng Thị P về xác định về tình trạng lúc nhập viện;

- Kết luận giám định số 5121/C54(TT3) ngày 29/11/2017 của Viện khoa học hình sự Tổng cục cảnh sát kết luận về tinh trùng thu trong âm hộ của Lƣờng Thị P là của Lƣơng Văn H;

- Các tài liệu liên quan đến việc xác định tuổi của Lƣờng Thị P;

- Các lời khai của Lƣờng Thị P về việc khoảng 00 giờ ngày 05/10/2017 sau khi hát xong Lƣơng Văn H đã đƣa P về phòng trọ sau đó H đã quan hệ tình dục với P.

Tại phiên toà bị cáo Lƣơng Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai nhƣ đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện - Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện tội phạm.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Lƣơng Văn H là ngƣời đã đủ 18 tuổi, vào ngày 05/10/2017 đã có hành vi quan hệ tình dục đối với Lƣờng Thị P sinh ngày 16/12/2003, khi H thực hiện hành vi quan hệ tình dục Lƣờng Thị P đã đủ 13 tuổi nhƣng chƣa đủ 16 tuổi.

Hành vi Lƣơng Văn H thực hiện đa pha ̣̃

m tô ̣i Giao cấu với ngƣời từ đủ 13 đến dƣới 16 tuổi, theo quy định tại khoản 1 Điều 145 Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Hành vi mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến sự phát triển bình thƣờng về thể chất và tâm sinh lý của ngƣời chƣa thành niên, xâm phạm danh dự nhân phẩm và sức khỏe con ngƣời, gây ảnh hƣởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phƣơng. Bản thân bị cáo là ngƣời đã thành niên, có đủ hiểu biết, nhận thức đƣợc hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhƣng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện tội phạm, do vậy phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi hành vi phạm bị phát hiện bị cáo đã cùng với gia đình bồi thƣờng thiệt hại cho ngƣời bị hại. Ngoài ra ngƣời bị hại và ngƣời đại diện của ngƣời bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo - đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, có nhân thân tốt, có nơi cƣ trú cụ thể, rõ ràng, việc cho bị cáo đƣợc cải tạo ngoài xã hội không gây ảnh hƣởng đến việc đấu tranh phòng chống tội phạm, phù hợp với quan điểm của Viện kiểm sát. Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử thấy bị cáo có đủ điều kiện để áp dụng hình phạt tù cho hƣởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra bị cáo và gia đình và gia đình ngƣời bị hại đã thống nhất thỏa thuận và đã bồi thƣờng cho ngƣời bị hại số tiền 25.000.000đ. Ngƣời bị hại và ngƣời đại diện không có yêu cầu bồi thƣờng gì thêm, nên bị cáo không phải bồi thƣờng gì thêm cho ngƣời bị hại.

Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Công an tiến hành thu một số vật chứng quần, áo, bao cao su và một số mẫu vật để phục vụ cho điều tra, giám định đây là những vật chứng liên quan đến vụ án cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1- Căn cứ khoản 1 Điều 145 Bộ luật hình sự, tuyên bố: Bị cáo Lƣơng Văn H phạm tội Giao cấu với ngƣời từ đủ 13 đến dƣới 16 tuổi.

Áp dụng khoản 1 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lƣơng Văn H 24 ( hai mƣơi bốn ) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng - Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 02/10/2018.

Giao bị cáo Lƣơng Văn H cho Uỷ ban nhân dân xã Chiềng Khoong, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hƣởng án treo.

Trong trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

2- Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc bị cáo và gia đình đã bồi thƣờng cho ngƣời bị hại số tiền 25.000.000đ. Bị cáo không phải bồi thƣờng gì thêm.

3- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) chiếc quần, loại quần bò màu xanh.

- 01 (một) bao cao su có vỏ màu vàng - xanh.

- 02 (hai) chiếc tất màu đen - đỏ - xanh

- 01 (một) chiếc áo phông cộc tay màu đen.

- 01 (một) chiếc áo phông cộc tay màu đen - trắng.

- 01 (một) chiếc quần bò màu đen.

- 01 (một) chiếc quần lót (si líp) màu xanh có kẻ ngang màu đỏ-trắng - đen.

- 01 (một) chiếc quần bò màu xám đen.

- 01 (một) chiếc áo dài tay màu đen, kẻ sọc trắng.

- 01 (một) chiếc áo sơ mi màu trắng.

- 01 (một) chiếc quần bò nhãn hiệu PRADA.

- 01 (một) chiếc quần lót nam giới (sịp) màu đen.

- 01 (một) chiếc quần lót nam giới ( sịp) màu đen, chấm trắng.

- 01 (một) chiếc ga màu vàng.

- Tóc và dịch ( đƣợc đựng trong một chiếc túi niêm phong ký hiệu PS2 số 044719)

( Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/7/2018 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã ).

4- Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS năm 2015; các Điều 21,23, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ ( hai trăm ngàn đồng ) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 02/10/2018; ngƣời bị hại và ngƣời đại diện hợp pháp có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản sao bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./.

Cỡ chữ