- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Trương Văn Th-Nguyễn Văn X"
- Tòa quyết gì? Chấ p nhậ n yêu cầ u khá ng cá o củ a ông Trương Văn Th.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 140/2018/DS-PT Ngày: 03 - 8 - 2018 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Út
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễ n Thà nh Lậ p
Bà Châu Minh Hoàng
-Thư ký phiên tòa:Ông Huỳnh Văn Đoan làThư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 99/2018/TLPT-DS ngày 01 tháng 6 năm 2018 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 26/2018/DS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Trầ n Văn Thờ i bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 138/2018/QĐPT-DS ngày11 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Trương Văn Th, sinh năm 1964 (Có mặt). Địa chỉ cư trú : Ấp M, xã Kh, huyện Tr, tỉnh C.
- Người bảo vệ quyền, lợ i í ch hợ p phá p củ a nguyên đơn: Luậ t sư Nguyễn Văn Trung thuộ c Đoà n luậ t sư tỉ nh Cà Mau (có mặt).
- Bị đơn: Nguyễn Văn X, sinh năm 1954 (Có mặt). Địa chỉ cư trú : Ấp M, xã Kh, huyện Tr, tỉnh C.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lê Thị Nh, sinh năm 1963 (vắ ng mặ t).
2. Anh Nguyễn Vũ U, sinh năm 1991 (vắ ng mặ t).
3. Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1983 (vắ ng mặ t).
4. Bà Nguyễn Kim H, sinh năm 1964 (vắ ng mặ t).
5. Anh Trương Hải Nh1, sinh năm 1989 (có mặt).
6. Chị Trương Tú A, sinh năm 1992 (vắ ng mặ t).
7. Chị Trương Mai Đ, sinh năm 1994 (vắ ng mặ t).
Cùng địa chỉ: Ấp M, xã Kh, huyện Tr, tỉnh C.
8. Ủy ban nhân dân huyện Tr, tỉnh C (vắ ng mặ t).
9. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - chi nhánh huyện Tr(gọi tắt là Ngân hàng) (vắ ng mặ t).
Cùng địa chỉ: Thị trấn Tr, huyện Tr, tỉnh C.
- Người kháng cáo: Ông Trương Văn Th – nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện,biên bả n hò a giả i , tài liệ u có tạ i hồ sơ và tại phiên toà phía đạ i diệ n cho ông Trương Văn Th nguyên đơn (ông Nguyễ n Văn Tr) trình bày như sau: Nguồn gốc đất tranh chấ p nằ m trong tổ ng số phầ n đấ t do cha mẹ ông Th để lại năm 1996 được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) với diện tích là 53.220 m2 do ông Trương Văn Th đứng tên trong giấy chứng nhận QSDĐ. Năm 2000 ông Th cho ông X mượn phần đất ngang 06 mét x dài 30 mét để cất nhà ở, khi mượn không làm giấy, phần đất tọa lạc tại ấp Mũi Tràm C, xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Thời hạn cho mượn là 10 năm, đến năm 2010 ông Th yêu cầu ông X trả lại phần đất trên thì ông X không đồng ý mà cho rằng đã chuyển nhượng. Phần đất này có thế chấp Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - chi nhánh huyện Tr ( Ngân hàng) để vay 200 triệu đồng, hiện nay chưa thanh toán cho Ngân hàng. Nay ông Tr (đại diện theo ủy quyền của ông Th) yêu cầu ông X phải trả lại diện tích theo đo đạc thực tế là 300m2 (ngang 06 mét x dài 50 mét).
Lời trình bày của bị đơn có tại hồ sơ và tại phiên tòa, như sau: Vào năm 1997 ông X nhận chuyển nhượng của ông Th là 01 nền nhà ngang 05 mét x dài 20 mét giá 2,5 triệu đồng, khi chuyển nhượng không có làm giấy. Năm 2000 ông X có cải tạo 01 cái ao cho ông Th, nhưng ông Th không có trả tiền công mà ông X và ông Th thỏa thuận ông Th chuyển nhượng cho ông X ngang 01 mét x dài 50 mét, phía sau giáp với phần đất hậu của ông X nhận chuyển nhượng trước là ngang 05 mét x dài 20 mét. Tổng diện tích ông X nhận chuyển nhượng là 300 m2, năm 2002 ông X cất nhà trên phần đất này và sử dụng toàn bộ diện tích đất đã chuyển nhượng là ngang 06 mét x dài 50 mét cho đến nay. Phần đất chuyển nhượng sau không có quy ra bao nhiêu tiền, nhưng thời điểm đó ông X sang lắp cái ao cho ông Th, ông X thuê nhân công làm và chi phí khác là 20 chỉ vàng 24k. Nay không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn.
Lời trình bày của bà Nguyễn Kim H có tại hồ sơ và tại phiên tòa: Từ trước đến nay vợ chồng bà H không có bán nền nhà nào cho ông X. Phần đất ông X đang quản lý là do vợ chồng bà H cho mượn từ năm 2000, đến năm 2010 yêu cầu lấy lại nhưng ông X không trả. Nay yêu cầu ông X phải trả lại toàn bộ diện tích đất trên. Đối với thành quả lao động, cây trồng trên đất và tài sản trên đất không đồng ý bồi thường, yêu cầu di dời trả lại đất.
Lời trình bày của anh Trương Hải Nh1 có tại hồ sơ và tại phiên tòa: Phần đất ông X đang quản lý là do gia đình anh Nhớ cho mượn từ năm 2000, đến năm 2010 yêu cầu lấy lại nhưng ông X không trả. Nay yêu cầu ông X phải trả lại toàn bộ diện tích đất trên.
Lời trình bày của bà Lê Thị Nh, anh Nguyễn Vũ U tại phiên tòa: Thống nhất với lời trình bày của ông Nguyễn Văn X, không đồng ý trước yêu cầu của nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn.
Đối với Ngân hàng: Có Công văn từ chối tham gia tố tụng.
Đối với bà Nguyễn Thị M: Là con của ông X, qua làm việc ông X cho rằng hiện nay chị M không sống chung gia đình và không có công sức đóng góp gì trên phần đất này.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 26/2018/DS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Trầ n Văn Thờ i đã tuyên xử:
Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điề u 149, Điều 155, Điều 157, Điều 158, Điề u 163, Điề u 165, Điều 186, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 143, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 697, Điều 699, Điều 702 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; điểm b.3 điểm b tiểu mục 2.2 mục 2 phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8//2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình; Pháp lệnh số 10/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và Nghị quyết số 01/2012/NQ – HĐTP ngày 13/6/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Văn Th đòi ông Nguyễn Văn X trả lại diện tích đất là 300 m2 – đất tọa lạc tại ấp Mũi Tràm C, xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, có tứ cận:
- Ngang mặt tiền 06 mét (giáp Kênh cùng);
- Ngang hậu 06 mét (giáp đất ông Th);
- Cạnh dài 50 mét (giáp đất ông Th);
- Cạnh dài 50 mét (giáp đất ông Th còn lại cặp ranh bà U).
(Kèm theo Mảnh trích đo địa chính ngày 26/4/2016 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau).
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyề n khá ng cá o theo luậ t đị nh.
Ngày 07/5/2018 ông Trương Văn Th có đơn kháng cáo đề nghị sửa t oàn bộ bản án sơ thẩm, buộ c bị đơn trả lại phần đất ngang 6mét x 50mét và tháo dỡ di dời nhà và tài sản ra khỏi phần đất của ông Th.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông Trương Văn Th giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Tuy nhiên, nế u bị đơn không có nhà và có nguyệ n vọ ng ở lạ i trên đấ t thì phả i hoàn lại tiền đất theo định giá thị trường.
Luậ t sư Nguyễ n Văn Tr là người đại diện theo ủy quyền của ông Th tại cấp sơ thẩ m, tại cấp phúc thẩm Luật s ư Nguyễ n Văn Tr làm đã đăng ký bảo vệ quyền, lợ i í ch hợ p phá p củ a ông Th đề nghị chấ p nhậ n yêu cầ u khở i kiệ n củ a ông Trương Văn Th, sử a á n sơ thẩ m. Tuy nhiên, nế u bị đơn không có nhà và có nguyệ n vọ ng ở lại trên đất thì phải hoàn lại tiền đất theo định giá thị trường cho 300m2 đấ t mà ông X đang sử dụ ng củ a ông Th.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu: Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Không chấ p nhậ n kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Án sơ thẩ m tuyên xử không chấ p nhậ n yêu cầ u đò i đấ t củ a ông Th, ông Th kháng cáo. Đối vớ i ông X đồ ng ý vớ i Bản án sơ thẩm không có kháng cáo . Về phầ n đấ t tranh chấ p có diện tích đất là 300m2 đất tọa lạc tại ấp Mũi Tràm C, xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, có tứ cận:
- Ngang mặt tiền 06 mét (giáp Kênh cùng);
- Ngang hậu 06 mét (giáp đất ông Th);
- Cạnh dài 50 mét (giáp đất ông Th);
- Cạnh dài 50 mét (giáp đất ông Th còn lại cặp ranh bà U).
(Kèm theo Mảnh trích đo địa chính ngày 26/4/2016 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau).
Theo biên bả n xem xé t thẩ m đị nh tạ i chỗ , trên phầ n đấ t có 01 căn nhà cơ bản, các cây trồng đã được định giá tổng số tiền là 104.324.000 đồ ng (trong đó giá trị đất 300m2 đã đị nh giá là 72.000.000 đồ ng). Tại cấp phúc thẩm, ông X trình bày trên đấ t tranh chấ p cò n có 01 chuồ ng vị t, 01 chuồ ng gà , khi thẩ m đị nh không đề cậ p ghi nhậ n, song ông X cho rằ ng đố i vớ i chuồ ng gà , chuồ ng vị t là che tạ m không có giá trị nên không yêu cầu định giá . Ngoài ra, sau khi xem xé t thẩ m đị nh tạ i chỗ (và vụ án chưa xét xử sơ thẩ m), thì ông X có xây thêm 01 nhà vệ sinh trên đất tranh chấ p, chi phí xây khoả ng 10 triệ u đồ ng; việ c tự xây nhà vệ sinh trên đấ t tranh chấ p củ a ông X khi chưa giả i quyế t vụ á n là việ c là m không đượ c pháp luật cho phép. Tuy nhiên, xét thấy lờ i trì nh bà y củ a các bên đã rõ , nên không nhấ t thiế t phả i xem xé t thẩ m đị nh tạ i chỗ lạ i đố i vớ i 01 nhà vệ sinh, 01 chuồ ng gà , 01 chuồ ng vị t như đã nêu trên.
Phầ n đấ t tranh chấ p 300m2, hiệ n nằ m trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) với tổ ng diện tích là 53.220m2 do ông Trương Văn Th đứng tên trong Giấy chứng nhận QSDĐ năm 1996, phần đất này có thế chấp Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - chi nhánh huyện Tr(gọi tắt là Ngân hàng) để vay 200 triệu đồng, hiện nay chưa thanh toán xong cho Ngân hàng. Về căn cứ đò i đấ t , ông Th cho rằ ng và o n ăm 2000, ông Th cho ông X mượn đấ t (nói miệng không có lập giấy tờ gì ) đố i vớ i phần đất ngang 06 mét x dài 30 mét để cất nhà ở; khi mượn không làm giấy (phần đất tọa lạc tại ấp Mũi Tràm C, xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau). Thời hạn cho mượn đấ t là 10 năm, đến năm 2010 ông Th yêu cầu ông X trả lại phần đất trên, thì ông X không đồng ý mà cho rằng đã chuyển nhượng 01nền nhà ngang 05 mét x dài 20 mét, giá 2,5 triệu đồng. Ông X còn cho rằng, vào năm 2000 ông X có cải tạo 01 cái ao cho ông Th nhưng ông Th không có trả tiền công mà ông X và ông Th thỏa thuận ông Th chuyển nhượng cho ông X ngang 01 mét x dài 50 mét, phía sau giáp với phần đất hậu của ông X nhận chuyển nhượng trước là ngang 05 mét X dài 20 mét, nâng tổ ng số phầ n đấ t ngang 06 mét x 50 mét = 300m2.
Quá trình giải quyết vụ án , ông X cho rằ ng việ c mua nề n nhà nà y của ông Th vào năm 1997 và ông X đã trả 2,5 triệ u đồ ng đề u đượ c ông Th xác định là có thật sự , và cũng đã ghi nhận tại Bản án dân sự phú c thẩ m số : 169/PTDS ngà y 28/6/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau (bút lục số: 62, 63, 64). Về nộ i dung thanh toá n tiề n mua đấ t 2,5 triệ u đồ ng này, cấp sơ thẩm cũng thống nhất với lời trình bày của ông X cho rằ ng Bả n á n số 169 nêu trên đã xá c đị nh việ c ông X mua 01 nề n vớ i giá 2,5 triệ u đồ ng và đã thanh toá n xong, nên cấ p sơ thẩ m xá c đị nh giao dịch là có xảy ra thực tế và ông X đã cấ t nhà ở ổ n đị nh , từ đó cấ p sơ thẩ m không chấ p nhậ n yêu cầu đòi đất cho mượn ở nhờ đối với ông Th. Về căn cứ ông X mua nề n và đã trả 2,5 triệ u đồ ng, tại cấp phúc thẩm đã tiế n hà nh thu thậ p thêm mộ t số tài liệu trong hồ sơ tranh chấp hợp đồng san lấp mặt bằng giữa ông Nguyễ n Văn X và ông Trương Thanh B, ngườ i có quyề n lợ i , nghĩa vụ liên quan là ông Trương Văn Th tranh chấ p từ năm 2004 đến 2005 đã giả i quyế t xong tạ i Bản án số 169/PTDS nêu trên. Cầ n phân tích làm rõ nội dung tranh chấ p củ a cá c ông X, B, Th xảy ra năm 2004 để xác định có hay không ông X đã mua 01 nề n nhà củ a ông Th vớ i giá 2,5 triệ u đồ ng. Theo nộ i dung tranh chấ p này, ông X cho rằ ng năm 1997 ông X có san lấp mặt bằng cho ông B, ông X tại Vàm Ba Tĩnh, xã Khánh Bình Tây Bắ c, huyệ n Trầ n Văn Thờ i ; cho đến ngày 30/8/1997 công trì nh hoà n thà nh và nghiệ m thu khố i lượ ng thà nh tiề n 49.140.000 đồ ng, đố i chiế u số tiề n ông X đã nhậ n (trong đó có tiề n mua nề n nhà) tổ ng số là 27.182.000 đồ ng, còn lại 21.958.000 đồ ng, ông Th đã trả đượ c ½ cò n lạ i ông B chưa trả nên Bả n á n số 169 tuyên buộ c ông B trả cho ông X 10.979.000 đồ ng. Tại tài liệu được ông X viế t đã tạm ứng số tiề n khi thi công công trì nh san lấ p mặ t bằ ng (bút lục số 376), số tiề n 27.182.000 đồ ng, ông X có ghi nhận tiền 02 tiề n nề n nhà (của ông X, ông H) là 05 triệ u đồ ng, điề u nà y cũ ng phù hợp với lời trình bày của ông X tại biên bản phiên tòa ngày 28/6/2005 (Bút lục số 399), biên bả n ghi lờ i khai ngà y 6/10/2004 (Bút lục số 378); đố i vớ i ông Trương Thanh B cũng xác định tiền ông X mua nề n nhà là mua củ a Ban công trì nh (tại Vàm Ba Tĩnh ). Đồng thời, tại biên bản hòa giải ngày 7/10/2014 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời (bút lục số 372, 373), ông X xác định có việc mua nền nhà như ông Th, ông B trình bày tại biên bản hòa giải là đú ng. Như vậ y, cầ n khẳ ng đị nh việ c ông X làm công trình năm 1997 và có mua 02 nề n nhà (trong đó 01 nề n củ a ông X, 01 nề n củ a ông H) và đã được tự tay ông X viế t số tiề n tạ m ứ ng đượ c đố i trừ là 27.182.000 đồ ng (thể hiệ n tạ i bú t lụ c số 376, và B ản án số 169), số tiề n mà ông X thanh toá n là nề n củ a Và m Ba Tĩ nh , (xã Khánh Bình Tây Bắc , huyệ n Trầ n Văn Thờ i ) mua củ a B an công trì nh nơi san lấ p mặ t bằ ng (Vàm Ba Tĩnh ) là phù hợp, chứ không phả i như lờ i ông X trình bày và cấ p sơ thẩ m đã chấ p nhậ n việ c ông X đã trả tiền mua đất 2,5 triệ u đồ ng nơi phầ n đấ t ông X đang ở có tranh chấp tọa lạc tại ấp Mũi Tràm C , xã Khánh Bình Tây Bắ c, huyệ n Trầ n Văn Thờ i, tỉnh Cà Mau.
Do bị đơn không cung cấ p đượ c chứ ng cứ đã nhậ n chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t và cấ p sơ thẩ m đá nh giá chứ ng cứ không đầ y đủ , có nhầ m lẫ n trong việ c cho rằ ng ông X đã thanh toá n tiề n mua đấ t 2,5 triệ u đồ ng, nhưng thự c tế là thanh toá n tiề n mua đấ t ở vị trí đấ t ở Và m Ba Tĩ nh (và ông X đã cấ t nhà ở như ông Th trình bày tại tòa ), chứ không phả i vị trí tại phầ n đấ t đang tranh chấ p , dẫ n đế n không chấ p nhậ n yêu cầ u củ a ngu yên đơn là không phù hợ p , làm ảnh hưởng đến quyề n, lợ i í ch hợ p phá p củ a nguyên đơn, vì vậy cần sửa án sơ thẩm, chấ p nhậ n yêu cầ u khá ng cá o, chấ p nhậ n yêu cầ u khở i kiệ n củ a ông Th là phù hợp.
Song, xét thấy ông X số ng trên đấ t nà y đã lâu , hiệ n ông X không có nhà ở và có nguyện vọng tiếp tục ở đến cuối đời . Tại tòa ông Th và vị Luậ t sư bả o vệ quyề n và lợ i í ch hợ p phá p củ a ông Th cũng cho rằng, nế u ông X ở trên đất thì phải hoàn lại giá trị tiền đất theo đị nh giá củ a giá trị thị trường cho diệ n tí ch 300m2. Tuy nhiên, theo giá trị phần đất đã định giá 300m2 = 72.000.000 đồ ng (Bảy mươi hai triệ u đồ ng) thì các bên đều đồng ý , nên không chấ p nhậ n đị nh giá lạ i theo yêu cầ u của ông Th là phù hợp. Lẽ ra, cấ p sơ thẩ m cầ n đị nh giá công cả i tạ o đấ t củ a ông X đố i vớ i phầ n đấ t đang tranh chấ p, việ c chưa đị nh giá công cả i tạ o có mộ t phầ n thiệ t thòi cho ông X. Tuy nhiên, đố i vớ i ông Th, cấ p sơ thẩ m đị nh giá lấ y khung giá Nhà nước có nhân thêm hệ số 1.2% (mà chưa đị nh giá thị trườ ng) là cũng gây thiệ t thòi một phần cho ông Th. Như vậ y, cầ n giữ y phầ n đấ t tranh chấ p 300m2 cho gia đì nh ông X tiế p tụ c sử dụ ng, đú ng như nguyệ n vọ ng của ông X và ông X phải hoàn trả cho ông Th 72.000.000 đồ ng,từ đó quyề n lợ i củ a cá c bên cũ ng đượ c bù trừ nhấ t đị nh, phù hợp với ý chí tự nguyện của ông Th và nhu cầu sử dụng đất của các bên.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau : Đề nghị không chấ p nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là không phù hợ p.
Việ c xé t xử vắ ng mặ t n hững người vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm được giải quyết theo trình tự thủ tục luật định.
Về chi phí xem xé t thẩ m đị nh tại chỗ, đo đạ c và đị nh giá , Bản án sơ thẩm không tuyên xử chi phí tố tụ ng trong phầ n quyế t đị nh là có thiế u só t. Do chấ p nhậ n yêu cầ u củ a ông Th, nên ông X phải hoàn trả lại số tiền chi phí xem xét thẩm định , đo đạ c, đị nh giá cho ông Th 4.103.000 đồ ng là phù hợ p.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấ p nhậ n yêu cầ u khá ng cá o củ a ông Trương Văn Th.
Sử a Bản án dân sự sơ thẩm số: 26/2018/DS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Trầ n Văn Thờ i, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử :
1. Chấ p nhậ n yêu cầ u khở i kiệ n củ a ông Trương Văn Th về việ c kiệ n đò i ông Nguyễ n Văn X trả lại giá trị phần đất tranh chấp tương đương với số tiền 72.000.000 đồ ng (Bảy mươi hai triệu đồng) đố i vớ i diệ n tí ch đấ t 300m2, tọa lạc tại ấp Mũi Tràm C, xã Khánh Bình Tây Bắc, huyệ n Trầ n Văn Thờ i, tỉnh Cà Mau.
2. Buộ c ông Nguyễ n Văn X hoàn trả cho ông Trương Văn Th số tiề n 72.000.000 đồ ng (bảy mươi hai triệu đồng ) và tiền chi phí xem xét thẩm định , đo đạ c, đị nh giá là 4.103.000 đồ ng.
Kể từ ngà y ông Th có đơn yêu cầu thi hành án, nế u ông X không thi hà nh thì còn phải chịu thêm lãi suất phát sinh trên số tiền chậm thi hành án được quy định tại khoản 2 Điề u 468 Bộ luậ t dân sự .
3. Giữ nguyên căn nhà , kiế n trú c, cây trồ ng trên phầ n đấ t có diện tích đất là 300 m2 tọa lạc tại ấp Mũi Tràm C, xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau cho ông Nguyễ n Văn X tiế p tụ c sử dụ ng, có tứ cận:
- Ngang mặt tiền 06 mét (giáp Kênh cùng);
- Ngang hậu 06 mét (giáp đất ông Th);
- Cạnh dài 50 mét (giáp đất ông Th);
- Cạnh dài 50 mét (giáp đất ông Th còn lại cặp ranh bà U).
(Kèm theo Mảnh trích đo địa chính ngày 26/4/2016 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau).
Ông Nguyễ n Văn X đượ c quyề n đăng ký quyề n sử dụ ng đấ t tạ i cơ quan có thẩ m quyề n theo pháp luậ t.
4. Về á n phí :
Án phí sơ thẩm dân sự có giá ngạch: Ông Nguyễ n Văn X phải chịu là 3.600.000 đồng, ông Th đã dự nộp 500.000 đồng theo biên lai số 0007304 ngày 06/9/2017 và biên lai số 0005334 ngày 25/11/2015 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được hoàn lại.
Án phí phúc thẩm: Ông Trương Văn Th không phả i chị u, đã dự nộ p 300.000 đồ ng theo biên lai số 0008116 ngày 07/5/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyệ n Trầ n Văn Thờ i, tỉnh Cà Mau đượ c nhậ n lại.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Tòa án nhân dân huyện Trầ n Văn Thờ i; - Chi cục THADS huyện Trầ n Văn Thờ i; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn; - Lưu VT, (TM:TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Văn Út |