vanban.org

Bản án 14 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Trọng M.

Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Trọng M ly hôn chị Hoàng Thị Ánh T. Về việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con khi ly hôn: Giao cháu cháu Nguyễn Trọng V sinh ngày 11/10/2004 và cháu Nguyễn Trọng C sinh ngày 17/01/2007cho anh Nguyễn Trọng M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, gi…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Trọng M.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: /2021/HNGĐ-ST
Ngày: 16 - 8 - 2021
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lã Thị Hà

2. Bà Đàm Thị Hà

- Thư ký Tòa án: Bà Trần thị Bích Phượng là Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

Ngày 16 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 86/2021/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2021 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2021/QĐXX-ST ngày 29 tháng 7 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Trọng M sinh năm 1979; địa chỉ: Số nhà B, ngõ S, đường THĐ, phố HT, phường NK, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

2. Bị đơn: Chị Hoàng Thị Ánh T sinh năm 1983; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Số nhà B, ngõ S, đường THĐ, phố HT, phường NK, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên toà có mặt anh M, vắng mặt chị T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 20/4/2021, bản tự khai, lời khai tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ xuất trình, nguyên đơn (Anh Nguyễn Trọng M) trình bày:

Anh và chị Hoàng Thị Ánh T được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, không bên nào bị ép buộc kết hôn, anh chị đăng ký kết hôn ngày 15/01/2004 tại Uỷ ban nhân dân xã NK, huyện Hoa Lư (nay là phường NK, thành phố Ninh Bình), tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị về nhà bố mẹ đẻ anh ở phố HT, phường NK, thành phố Ninh Bình ở.

Anh và chị T chung sống thời gian đầu hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Từ tháng 5 năm 2018 thì chị T bỏ nhà đi không thấy về và anh đã yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình tuyên bố chị T mất tích. Ngày 05/4/2021, Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình đã ra quyết định tuyên bố chị Hoàng Thị Ánh T mất tích. Anh đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình xem xét giải quyết cho anh được ly hôn chị Hoàng Thị Ánh T.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Trọng V sinh ngày 11/10/2004 và cháu Nguyễn Trọng C sinh ngày 17/01/2007, các cháu hiện nay đang ở với anh. Vì chị T mất tích nên khi ly hôn anh đề nghị Tòa án giao hai cháu Nguyễn Trọng V và Nguyễn Trọng C cho anh nuôi dưỡng, anh không đề nghị giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung của vợ chồng: Anh M không đề nghị Toà án xem xét giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã đến nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích của chị T là số nhà B, ngõ S, đường THĐ, phố HT, phường NK, thành phố Ninh Bình để giao văn bản tố tụng của Tòa án cho chị T thì được gia đình và chính quyền địa phương cho biết chị T đã bỏ nhà đi từ tháng 5 năm 2018 đến nay không có tin tức gì, chị T hiện đang làm gì, ở đâu gia đình và chính quyền địa phương không rõ; Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Đến nay, Tòa án không nhận được văn bản ghi ý kiến của chị Hoàng Thị Ánh T đối với yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ, yêu cầu phản tố.

* Các tài liệu, chứng cứ:

- Giấy chứng nhận kết hôn giữa anh Nguyễn Trọng M và chị Hoàng Thị Anh Tuyết do Uỷ ban nhân dân xã NK, huyện Hoa Lư cấp ngày 15/01/2004;

- Giấy khai sinh của cháu Nguyễn Trọng V và cháu Nguyễn Trọng C;

- Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2021/QĐST-VDS ngày 05/4/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình;

- Đơn trình bày của cháu Nguyễn Trọng V và cháu Nguyễn Trọng C đề ngày 29/4/2021;

- Biên bản sự việc ngày ngày 29/4/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền: Anh Nguyễn Trọng M có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình xem xét giải quyết cho anh được ly hôn chị Hoàng Thị Ánh T có nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích tại thành phố Ninh Bình. Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình.

[1.2] Về đương sự vắng mặt tại phiên tòa: Bị đơn - chị Hoàng Thị Ánh T vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, để đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn mở phiên tòa để xét xử vụ án.

[2] Về Ly hôn: anh Nguyễn Trọng M và chị Hoàng Thị Ánh T được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, không bên nào bị ép buộc kết hôn, anh chị đăng ký kết hôn ngày 15/01/2004 tại Uỷ ban nhân dân xã NK, huyện Hoa Lư (nay là phường NK, thành phố Ninh Bình), tỉnh Ninh Bình theo đúng quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Anh Nguyễn Trọng M khai: Sau khi kết hôn, anh và chị T chung sống thời gian đầu hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Từ tháng 5 năm 2018 thì chị T bỏ nhà đi không thấy về và anh đã yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình tuyên bố chị T mất tích. Ngày 05/4/2021, Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình đã ra quyết định tuyên bố chị Hoàng Thị Ánh T mất tích. Nay anh M đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình xem xét giải quyết cho anh được ly hôn chị Hoàng Thị Ánh T.

Xét thấy, chị Hoàng Thị Ánh T bỏ nhà đi đến nay đã hơn 3 năm, trong 3 năm qua vợ chồng không sống chung với nhau, không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được; Ngày 05/4/2021, Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình đã ra quyết định tuyên bố chị Hoàng Thị Ánh T mất tích. Nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận cho anh M được ly hôn chị T.

[3] Về việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con khi ly hôn: Căn cứ trình bày của anh Nguyễn Trọng M và tài liệu chứng cứ giao nộp thì anh M và chị T có hai con chung là cháu Nguyễn Trọng V sinh ngày 11/10/2004 và cháu Nguyễn Trọng C sinh ngày 17/01/2007, các cháu hiện nay đang ở với anh M. Vì chị T mất tích nên khi ly hôn, anh M đề nghị Tòa án giao hai cháu Nguyễn Trọng V và Nguyễn Trọng C cho anh nuôi dưỡng, anh không đề nghị gì về cấp dưỡng nuôi con.

Trong đơn Đơn trình bày của cháu Nguyễn Trọng V và cháu Nguyễn Trọng C đề ngày 29/4/2021 gửi Tòa án, cháu Nguyễn Trọng V và cháu Nguyễn Trọng C có nguyện vọng được ở với bố cháu khi bố mẹ cháu ly hôn.

Căn cứ ý kiến của anh M; nguyện vọng của cháu V và cháu C; Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2021/QĐST-VDS ngày 05/4/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình; Điều 81 luật Hôn nhân và gia đình thấy việc giao cho anh M trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Trọng V và cháu Nguyễn Trọng C khi anh chị ly hôn là có tình, có lý nên chấp nhận.

[4] Về tài sản chung, công nợ chung: Do không có yêu cầu của đương sự nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí: Anh Nguyễn Trọng M phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 19; khoản 1 các Điều 51, Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Trọng M.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Trọng M ly hôn chị Hoàng Thị Ánh T.

2. Về việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con khi ly hôn: Giao cháu cháu Nguyễn Trọng V sinh ngày 11/10/2004 và cháu Nguyễn Trọng C sinh ngày 17/01/2007cho anh Nguyễn Trọng M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

3. Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: anh Nguyễn Trọng M phải chịu là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0000516 ngày 27/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình. Anh M đã nộp đủ.

Anh Nguyễn Trọng M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (16/8/2021). Chị Hoàng Thị Ánh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ