vanban.org

Bản án 14 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa : Ông Ngô Sỹ T và bà Nguyễn Thị Châu L.

VÒ con chung: Không có; con riêng: các cháu đã thành niên không yêu cầu Tòa án giải quyết Về tài sản: Tài sản riêng, tài sản chung: Nợ phải trả; Nợ lấy về; Nhà và đất: Không yêu cầu Tòa án giải quyết Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T- c"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa : Ông Ngô Sỹ T và bà Nguyễn Thị Châu L.
Toµ ¸n nh©n d©n
THÀNH PHỐ Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TØnh §iÖn Biªn
B¶n ¸n sè 14/2025/HNGĐ-ST
Ngµy 25/ 4/ 2025
V/v: "Ly hôn"
- ThÈm ph¸n chñ to¹ phiªn toµ: Bµ Bạc Thị Liên
- C¸c héi thÈm nh©n d©n: 1. Bà Nguyễn Thị Lan
Tòa án nhân dân thành phố Đ.
mở phiên tòa xÐt xö s¬ thÈm c«ng khai vô ¸n hôn nhân và gia đình thụ lý sè:
32/2024/TLST - HNG§ ngµy 27 th¸ng 12 n¨m 2024 về việc "Ly hôn" theo quyÕt
®Þnh ® a vô ¸n ra xÐt xö sè: 13/2025/Q§XX-ST ngµy 11/4/2025 gi÷a c¸c đương
sự:
1. Nguyên Đơn: Ngô Sỹ T, sinh năm: 1968 (Cã mÆt).
Địa chỉ: Tổ 5, phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên
2. Bị Đơn: Nguyễn Thị Châu L sinh năm: 1974 (V¾ng mÆt có lý do)
tại phân trại số 2 Trại P 4, xã C - huyện P, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 02/12/2024, đơn bổ sung và các bản tự khai tại Tòa án nhân dân thành phố Đ, ông Ngô Sỹ T (nguyên đơn) trình bày:

1. Về hôn nhân: Tôi và bà Nguyễn Thị châu L có đi ®¨ng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Đ vào ngày 14/03/2016. Chóng tôi kết hôn lµ tù nguyÖn, kh«ng bÞ ai Ðp buéc. Kết hôn và chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn, đến tháng 4/2023 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân bà L bị bắt tạm giam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tháng 9 năm 2024, bà L bị Tòa án nhân dân tỉnh Đ xử 14 năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trong thời gian chung sống, bà L chuyên đi lừa đảo, buôn trâu bò, đất cát, không hiểu vì sao bà L vỡ nợ một số tiền rất lớn. Tôi đã bị ngân hàng và thi hành án nợ phong toả hết tài sản trả nợ cho bà L. Bản thân tôi đã bán tài sản để trả nợ cho bà L rất nhiều. Cho đến thời điểm bà L đi chấp hành án không biết còn bao nhiêu khoản nợ nữa. Cuộc sống của tôi bị khủng hoảng, không có lối thoát, hiện bà L đang đi cải tạo tại trại giam Trại P 4, xã C- huyện P, tỉnh T, để lại một mình tôi cùng khoản nợ rất lớn. Vì tình cảm vợ chồng không còn nên Tôi làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đ giải quyết cho tôi được ly hôn với bà L để tôi sớm ổn định cuộc sống. 2. Về con chung: Không có.

- Về con riêng: Các cháu đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết. 3. Về tài sản: Không yêu cầu Tòa giải quyết. Ngày 27/12/2024, sau khi thụ lý vụ án Toà án nhân dân thành phố Đ đã thông báo nội dung đơn xin ly hôn với các yêu cầu cụ thể của ông Tú cho bà L biết, có Công văn nhờ Ban Giám thị T 4 tống đạt thông báo thụ lý vụ án và hướng dẫn bà L viết bản tự khai, cùng tài liệu chứng cứ gửi về cho Toà án nhân dân thành phố Đ.

Ngày 13/01/2025, Trại giạm P 4 đã có biên bản tống đạt cùng bản tự khai đơn xin xét xử vắng mặt của bà L gửi cho Tòa án.

Tại bản tự khai ngày 13/01/2025 bà L khai về hôn nhân bà cho rằng trong quá trình chung sống không mâu thuẫn gì về con chung không có, về con riêng các cháu đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản gồm nhà và đất ở phường N đã bị ngân hàng phong tỏa trả nợ, còn khoản nợ của bản án số 111 ngày 16/9/2024 là 2.330.000.000đ.

Hiện bà L đang chấp hành án nên không thể tham gia quá trình tố tụng, do vậy có đơn xin Tòa xét xử vắng mặt theo qui định của pháp luật.

Tại phiên tòa ông T vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, về con chung không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ tài sản như nội dung trong đơn khởi kiện và bản tự khai ông đã trình bày.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH

Sau khi nghiªn cøu c¸c tµi liÖu cã trong hå s¬ vô ¸n, qua thÈm tra t¹i phiªn toµ. Héi ®ång xÐt xö nhËn ®Þnh:

[1]. Về Tố tụng. Bị đơn có hộ khẩu thường trú t 5, phường N, quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đ theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39/BLTTDS.

- Về sự vắng mặt của đương sự: Bà L có đơn xin xét xử vắng mặt cho nên căn cứ Khoản 1 Điều 227/BLTTDS năm 2015. HĐXX vẫn tiến hành xét xử.

[2] .VÒ quan hệ hôn nhân: Ông Ngô Sỹ T và bà Nguyễn Thị Châu L có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố Đ. Do vậy hôn nhân giữa hai người là hợp pháp.

Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do bà L bị bắt tạm giam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tháng 9 năm 2024, bà L bị Tòa án nhân dân tỉnh Đ xử 14 năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do bà L phải đi chấp hành án một thời gian dài, cuộc sống không có lối thoát, khủng hoảng trầm trọng vì khoản nợ bà L để lại. Vì tình cảm không còn cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc nên ông T làm đơn xin ly hôn.

Tại bản tự khai bà L gửi cho Toà về hôn nhân bà cho rằng trong quá trình chung sống không mâu thuẫn gì về con chung không có, về con riêng các cháu đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản đã bị trả nợ còn một khoản nợ rất lớn chưa trả được.

Héi ®ång xÐt xö xÐt thÊy: Nguyên nhân chính do bà L phải đi chấp hành án một thời gian quá dài 14 năm tù nên không còn chung sống và quan tâm chăm sóc cho gia đình cùng ông T, hơn nữa bà L để lại một khoản nợ rất lớn, nên ông T không thể gánh vác cùng các khoản nợ trên do vậy nên mâu thuẫn không thể hòa giải được. Để ®¶m b¶o quyÒn lîi cña ông T và để giải phóng cho ông thoát khỏi tình trạng hiện tại khi mà hôn nhân không thể đem lại hạnh phúc cho ông, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, vì mục đích của hôn nhân không đạt được. Hai ông bà không có thời gian chung sống chăm sóc giúp đỡ nhau, theo Điều 19 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Nhưng hai ông bà không thể thực hiện quyền và nghĩa vụ qui định tại điều luật này do bà L phải đi chấp hành án. Như vậy không thể đảm bảo hạnh phúc gia đình cho ông T. Áp dông Điều 51, và Điều 56 LuËt h«n nh©n gia ®×nh n¨m 2014 chấp nhận yêu cầu của ông T xử cho ly hôn giữa ông Tú và bà L.

[3] Về con chung: Không có; con riêng: các cháu đã thành niên không yêu cầu Tòa án giải quyết

[4] Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí: C¨n cø Khoản 4 §iÒu 147/BLTTDS. Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/216 cña Uû ban thường vô Quèc héi vÒ ¸n phÝ, lÖ phÝ Toµ ¸n. Ông Ngô Sỹ T ph¶i chÞu 300.000đ tiền ¸n phÝ d©n sù s¬ thÈm.

V× c¸c lÏ trªn.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 19 của LuËt h«n nh©n vµ gia ®×nh n¨m 2014. Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Tuyªn xö:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa : Ông Ngô Sỹ T và bà Nguyễn Thị Châu L.

2. VÒ con chung: Không có; con riêng: các cháu đã thành niên không yêu cầu Tòa án giải quyết

3. Về tài sản: Tài sản riêng, tài sản chung: Nợ phải trả; Nợ lấy về; Nhà và đất: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

4. Về án phí: C¨n cø Khoản 4 §iÒu 147/BLTTDS. Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 cña Uû ban thường vô Quèc héi vÒ ¸n phÝ, lÖ phÝ Toµ ¸n. Ông Ngô Sỹ T ph¶i chÞu 300.000đ tiền ¸n phÝ d©n sù s¬ thÈm, ông T đã nộp tạm ứng số tiền 300.000đ theo biên lai số: 0001099 ngày 27/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ (ông T đã nộp đủ ¸n phÝ d©n sù s¬ thÈm).

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/4/2025)

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án chính, hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ