vanban.org

Bản án 14 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con" của nguyên đơn Đặng Thị Kiều T đề ngày 10/10/2025.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Kiều T được ly hôn với anh Trần Thanh S. Về con chung: Giao con chung là cháu Trần An N, sinh ngày 18/12/2011 cho chị Đặng Thị Kiều T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu N đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị Kiều Tr"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con" của nguyên đơn Đặng Thị Kiều T đề ngày 10/10/2025.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

KHU VỰC 7 – QUẢNG NGÃI

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Bản án số: 14/2026/HNGĐ-ST Ngày 31 - 3 - 2026 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Phúc và bà Chế Thị Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Lan Vi - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 194/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2025 về việc " Ly hôn, tranh chấp nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2026/QĐST-HNGĐ ngày ngày 05 tháng 02 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2026/QĐST-HNGĐ ngày ngày 04 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Kiều T, sinh năm 1992. Địa chỉ: 2 H, phường K, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Thanh S, sinh năm 1990. Địa chỉ: B H, phường K, tỉnh

Quảng Ngãi. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 10/10/2025 và lời khai tại Toà án nguyên đơn chị Đặng Thị Kiều T trình bày và yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh S có quan hệ tình cảm từ năm 2011 và đã có 01 con chung. Sau khi có con chị T và anh S1 đăng ký kết hôn năm 2015 vào ngày 26 tháng 9 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố K, tỉnh Kon Tum (nay phường K). Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc đến năm 2017 thì anh chị sống ly thân từ đó cho đến nay. Chị Đặng Thị Kiều T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng ai làm việc người nấy, không ai quan tâm đến ai, vì vậy chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Thanh S.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Trần An N, sinh ngày 18/12/2011. Sau khi ly hôn chị Đặng Thị Kiều T có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu N và không yêu cầu anh S cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đặng Thị Kiều T không yêu cầu giải quyết.

Đối với bị đơn anh Trần Thanh S: Toà án đã tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án đến địa chỉ cho anh Trần Thanh S. Tuy nhiên, đến nay, anh Trần Thanh S vắng mặt không có lý do thể hiện không muốn đoàn tụ vợ chồng với chi T.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi tham gia phiên toà, phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên toà đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự ;

- Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đặng Thị Kiều T, xử cho chị Đặng Thị Kiều T ly hôn với anh Trần Thanh S. Về con chung: Giao cháu Trần An N, sinh ngày 18/12/2011 cho chị Đặng Thị Kiều T trực tiếp trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Trần Thanh S không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị T. Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết;

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở tranh luận tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn chị Đặng Thị Kiều T khởi kiện ly hôn đối với anh Trần Thanh S có nơi cư trú tại B H, phường K, tỉnh Quảng Ngãi. Đây là quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Trần Thanh S đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Kiều T và anh Trần Thanh S tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố K, tỉnh Kon Tum theo giấy chứng nhận kết hôn số 101 ngày 29 tháng 6 năm 2015, là đúng theo quy định của pháp luật, không vi phạm điều kiện về kết hôn. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị Đặng Thị Kiều T và anh Trần Thanh S là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, anh, chị chung sống không hạnh phúc, theo chị T phát inh mâu thuẫn từ năm 2017 và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay, mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai; mặt khác theo biên bản làm việc bố anh S thể hiện hai anh chị sống ly thân từ năm 2023 đến nay, anh Sơn S2 cùng bố mẹ, chị T dẫn con thuê nhà trọ riêng để sống. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Đặng Thị Kiều T và anh Trần Thanh S đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, chị Đặng Thị Kiều T yêu cầu được ly hôn với anh Trần Thanh S, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Thị Kiều T.

- Về con chung: Chị Đặng Thị Kiều T và anh Trần Thanh S có 01 con chung là Trần An N, sinh ngày 18/12/2011. Sau khi ly hôn chị Đặng Thị Kiều T có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu N, chị T không yêu cầu anh S cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy: Từ khi ly thân cho đến nay cháu Trần An N vẫn sống cùng chị Đặng Thị Kiều T. Việc nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Trần An N vẫn được đảm bảo. Tại bản tự khai cháu Trần An N khai cháu ở với mẹ từ khi ba mẹ sống ly thân cho đến nay, hiện nay cháu vẫn có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, căn cứ vào quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của chị Đặng Thị Kiều T giao con chung là cháu Trần An N, sinh ngày 18/12/2011 cho chị Đặng Thị Kiều T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đặng Thị Kiều T không yêu cầu anh Trần Thanh S cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tự nguyện của chị T, cần chấp nhận.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Đặng Thị Kiều T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025;

Áp dụng khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

1. Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con" của nguyên đơn Đặng Thị Kiều T đề ngày 10/10/2025.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Kiều T được ly hôn với anh Trần Thanh S.

- Về con chung: Giao con chung là cháu Trần An N, sinh ngày 18/12/2011 cho chị Đặng Thị Kiều T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu N đủ 18 tuổi.

Việc nuôi con, cấp dưỡng nuôi con không cố định. Anh Trần Thanh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 144; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chị Đặng Thị Kiều T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Đặng Thị Kiều T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0002155 ngày 10/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi. Chị Đặng Thị Kiều T đã nộp đủ tiền án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (31/3/2026) , bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ