vanban.org

Bản án 14/HS-SR — Hình sự

TAND huyện Cát Hải, TP. Hải Phòng Tuyên án 25/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Đức L phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ",

Xử phạt bị cáo Lê Đức L 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Thanh Quang, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "VI phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Đức L phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ",
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁT HẢI
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HS-ST
Ngày 25-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Như Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vũ Thị Lại

Ông Trần Chấn Hưng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 07/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Lê Đức L, sinh ngày 05/8/1979 tại Hải Dương; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: Lớp 7/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Đức P và bà Trịnh Thị L; có vợ là Nguyễn Thị H và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12 tháng 11 năm 2024; có mặt.

- Bị hại: Công ty TNHH Phát triển Thương mại Vận tải T; địa chỉ: Số Đ, phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng; người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Mai A - Chức vụ: Giám đốc; vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Phạm Tiến D; vắng mặt.

2. Anh Lê Văn L; có mặt.

3. Anh Bùi Đức K; vắng mặt.

4. Anh Hoàng Văn N; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 09/8/2024, tại cầu Tân Vũ đoạn Km 9+620 đường Tân Vũ - Lạch Huyện thuộc địa phận xã Nghĩa Lộ, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng xảy ra vụ tai nạn giao thông giữa xe ô tô BKS 15C-288.70 do Lê Đức L điều khiển theo hướng từ vòng xuyến DEEP C II Hải Phòng về ngã ba xã Nghĩa Lộ, huyện Cát Hải do tránh xe ô tô đầu kéo BKS: 29H-843.78 kéo sơ mi rơ moóc BKS 29R-404.66 do anh Phạm Tiến D điều khiển đang đỗ trên cầu Tân Vũ do bị sự cố, bị cáo L đánh lái sang bên đường ngược chiều có vạch đôi vàng liền đã đâm vào xe ô tô đầu kéo BKS 15C- 291.26 kéo sơ mi rơ moóc BKS 15R-058.31 do anh Lê Văn L điều khiển đi ngược chiều. Hậu quả, xe ô tô BKS 15C-288.70 do bị cáo điều khiển và xe đầu kéo BKS 15C- 291.26 do anh L điều khiển đều bị hư hỏng nặng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 44/KL-HDĐGTS ngày 01/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND thành phố Hải Phòng kết luận: Xe ô tô trộn bê tông BKS: 15C-288.70, giá trị thiệt hại là 56.983.000 đồng. Xe ô tô đầu kéo BKS 15C-291.26, giá trị thiệt hại là 170.364.000 đồng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường là cầu Tân Vũ đoạn Km 9+620 đường Tân Vũ - Lạch Huyện thuộc địa phận xã Nghĩa Lộ, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng. Đoạn cầu Tân Vũ chia làm hai chiều đường riêng biệt bề rộng bằng nhau, mỗi chiều có 02 làn xe chạy, có bề rộng lần lượt là 3,3m và 4m. Điểm mốc được xác định là cột đèn chiếu sáng số SE-B106 trên thành cầu phía bên phải theo chiều đường từ vòng xuyến DEEP C Hải Phòng II về hướng ngã ba xã Nghĩa Lộ.

Tại hiện trường, ghi nhận các dấu vết: 01 xe ô tô BKS 15C-288.70 đang đỗ hướng từ vòng xuyến DEEP C Hải Phòng II về hướng ngã ba xã Nghĩa Lộ, phần đuôi xe nằm ở chiều đường từ vòng xuyến DEEP C Hải Phòng II về hướng ngã ba xã Nghĩa Lộ, phần đầu xe nằm trên chiều đường ngược lại. 01 xe ô tô đầu kéo BKS 15C-291.26 kéo sơ mi rơ moóc BKS 15R-058.31 đang đỗ hướng từ ngã ba xã Nghĩa Lộ về vòng xuyến DEEP C Hải Phòng II. Đầu xe bị vỡ khuyết nhựa, một phần cabin đổ nghiêng vào cột đèn chiếu sáng và đổ về phía thành cầu, 02 vết phanh xe màu đen liên tục từ đậm đến nhạt của xe ô tô BKS 1SC-291.26 hơi song song nhau, đầu các vết phanh lần lượt cách mép đường chuẩn bên phải xe là 5m và 6,9m, điểm cuối 02 vết phanh xe trùng với điểm tiếp đất của 02 bánh xe số 06 của xe ô tô BKS 15C-291.26. Phía lái bên trái xe ô tô BKS 15C-288.70 và ô tô BKS 15C-291.26 có đám mảnh nhựa nằm rải rác trong diện (07x8,6)m. 01 xe ô tô đầu kéo BKS 29H-843.78 kéo sơ mi rơ moóc BKS 29R-404.66 đang đỗ tại chiều đường từ vòng xuyến DEEP C Hải Phòng II về phía ngã ba Nghĩa Lộ.

Kết quả khám nghiệm các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn, ghi nhận các dấu vết:

Xe ô tô đầu kéo BKS 15C-291.26 kéo sơ mi rơ móoc BKS 15R-058.31: Toàn bộ phần đầu xe ô tô đầu kéo BKS 15C-291.26 là điểm xảy ra va chạm đều bị móp méo, cong vênh, dập vỡ theo chiều từ trước về sau, lộ hoàn toàn phần máy bên trong xe.

Xe ô tô trộn bê tông BKS 15C-288.70: Toàn bộ phần kính chắn gió phía trước đầu xe, khung cabin và cánh cửa hai bên bị cong vênh, xô lệch khỏi vị trí ban đầu theo chiều từ trước về sau, từ ngoài vào trong để lộ một số bộ phận bên trong xe.

Xe ô tô đầu kéo BKS: 29H-843.78 kéo sơ mi rơ móoc BKS 29R-404.66 không phát hiện thấy dấu vết va chạm để lại trên phương tiện. Trước khi xảy ra tai nạn, xe bị sự cố không thể di chuyển, khoảng 23 giờ ngày 09/8/2024 sự cố được khắc phục. Toàn bộ dây hơi, dây phanh, lốc kê và dây điện hiện được thay mới ít bám bụi, sau khi khắc phục xong xe hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn.

Tại bản Kết luận giám định số 2956/KL-KTHS ngày 23/9/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Dấu vết dập vỡ khuyết nhựa, gãy vỡ, cong vênh, dồn ép kim loại, bề mặt trượt xước mất sơn màu trắng màu đen, màu xanh, bám dính tạp chất màu cam, màu trắng (dạng sơn) theo chiều từ trước về sau, từ trái sang phải tại bên trái đầu xe ô tô mang BKS 15C - 288.70 phù hợp với dấu vết dập vỡ khuyết nhựa, gãy vỡ, cong vênh, dồn ép kim loại, bề mặt trượt xước mất sơn màu cam, màu trắng, bám dính tạp chất màu trắng, màu đen, màu xanh (dạng sơn) theo chiều từ trái sang phải, từ trước về sau tại bên trái đầu xe ô tô đầu kéo mang BKS 15C - 291.26 kéo sơ mi rơ moóc mang BKS 15R- 058.31. Các dấu vết này được hình thành khi hai phương tiện chuyển động ngược chiều va chạm với nhau.

Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở và xét nghiệm chất ma túy của Lê Đức L vào ngày 09/8/2024 là: 0 mg/L; âm tính với các chất ma túy.

Bản Cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 28/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã nêu. Bị cáo xác nhận việc điều tra, truy tố đối với bị cáo là đúng, không oan sai, bị cáo không khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và các cơ quan tiến hành tố tụng.

Tại phiên toà, anh Lê Văn L khai: anh L có giấy phép lái xe hạng FC phù hợp loại xe điều khiến. Trước khi xảy ra tai nạn, anh L điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS 15C-291.26 kéo sơ mi rơ moóc BKS 15R-058.31 đang đi lên dốc cầu Tân Vũ theo hướng từ xã Nghĩa Lộ, Cát Hải vào nội thành Hải Phòng, anh di chuyển khoảng 40km/h đi đúng phần đường, làn đường thì bất ngờ bị xe ô tô do bị cáo điều khiển đi từ phần đường của xe chạy ngược chiều đâm vào gây tai nạn.

Người làm chứng là anh Phạm Tiến D khai tại cơ quan điều tra: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 09/8/2024, anh D điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS 59H-843.78 kéo sơ mi rơ moóc BKS 29R-404.66 đi từ vòng xuyến DEEP C Hải Phòng II hướng ngã ba xã Nghĩa Lộ trên cầu Tân Vũ đoạn Km 9+620 đường Tân Vũ - Lạch Huyện đi ở làn trong gần vạch phân cách thì xe ô tô bị sự cố đứt dây hơi và dây điện nối với rơ moóc làm xe bị bó phanh, không di chuyển được do đó phải đỗ ở giữa đường. Sau khi đỗ xe, anh D bật đèn cảnh báo xe ô tô nhưng do dây điện bị đứt nên đèn cảnh báo phía sau không hoạt động được, anh D đặt 01 chiếc xô nhựa phía sau xe và đứng vẫy các xe đi tới chậm lại. Khi đang đứng vẫy xe thì thấy 01 xe ô tô trộn bê tông đi đến đâm thẳng vào xô nhựa rồi bất ngờ đánh lái sang trái đi sang phần đường của xe chạy ngược chiều đâm vào xe ô tô đầu kéo BKS 15C-291.26 kéo sơ mi rơ moóc BKS 15R-058.31 làm hai phương tiện bị hư hỏng nặng.

Người đại diện theo pháp luật của bị hại là Công ty phát triển thương mại vận tải T cho biết, bị cáo đã bồi thường thiệt hại với số tiền 170.000.000 đồng, Công ty không yêu cầu, đề nghị gì thêm. Ngoài ra, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với thiệt hại số tiền 56.983.000 đồng của xe ô tô BKS 1SC-288.70 do bị cáo điều khiển, Công ty TNHH bê tông Vạn Đức không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo L từ 12 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Đề nghị huỷ bỏ Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo biết hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, rất ăn năn, hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cát Hải, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng trong vụ án, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Lời khai của bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với Cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó làm rõ: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 09/8/2024, tại cầu Tân Vũ đoạn Km 9+620 đường Tân Vũ - Lạch Huyện thuộc địa phận, xã Nghĩa Lộ, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng, bị cáo Lê Đức L có giấy phép lái xe hạng C còn thời hạn điều khiển xe ô tô BKS 15C-288.70 do không chú ý quan sát đã đánh lái sang làn đường của xe đi ngược chiều đâm vào xe ô tô đầu kéo BKS 15C-291.26 kéo sơ mi rơ moóc BKS 15R-058.31 do anh Lê Văn L điều khiển đi tới dẫn đến tai nạn giao thông gây thiệt hại số tiền 170.364.000 đồng cho xe đầu kéo BKS 15C- 291.26 của Công ty phát triển thương mại vận tải T.

Địa hình khi bị cáo tham gia giao thông là khu vực trên cầu, đồng thời bị cáo nhìn thấy xe ô tô đầu kéo BKS: 29H-843.78 kéo sơ mi rơ moóc BKS 29R-404.66 đang đỗ trên cầu Tân Vũ do bị sự cố nhưng bị cáo đã không giảm tốc độ đến mức an toàn mà vẫn giữ nguyên tốc độ di chuyển và đánh lái sang bên đường ngược chiều có vạch đôi vàng liền đã đâm vào xe ô tô đầu kéo BKS 15C- 291.26 kéo sơ mi rơ moóc BKS 15R-058.31 do anh Lê Văn L điều khiển và hậu quả dẫn đến thiệt hại về tài sản là 170.364.000 đồng.

Hành vi điều khiển xe ô tô khi tham gia giao thông gây tai nạn của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 (Nay là Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ); Khoản 1 Điều 9 quy định: "Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ. "

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ mà còn xâm hại đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo tham gia giao thông nhưng không có ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ, vi phạm quy tắc giao thông. Mặc dù bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý, nhưng hành vi của bị cáo đã gây thiệt hại đến tài sản của người khác.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; đại diện bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo đã tham gia nghĩa vụ quân sự; có bố đẻ được tặng Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên bị cáo bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử xét thấy để bị cáo cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tại cơ quan điều tra, bị cáo đã bồi thường cho bị hại là Công ty Phát triển Thương mại Vận tải T số tiền 170.000.000 đồng, Công ty không có yêu cầu, đề nghị gì thêm. Đối với thiệt hại số tiền 56.983.000 đồng của xe ô tô BKS 15C-288.70 do bị cáo điều khiển, Công ty TNHH Bê tông Vạn Đức không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Xét thấy, các bên liên quan không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Nghề nghiệp chính của bị cáo là lái xe, lỗi trong vụ án là lỗi vô ý nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt "cấm hành nghề hoặc thực hiện một công việc nhất định" đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe ô tô trộn bê tông BKS 15C-288.70 cho Công ty TNHH Bê tông Vạn Đức, xe ô tô đầu kéo BKS 15C-291.26 và sơ mi rơ moóc BKS 15R-058.31 cho Công ty Phát triển Thương mại Vận tải T, xe ô tô đầu kéo BKS 29H-843.78 và sơ mi rơ moóc BKS 29R-404.66 cho Công ty Cổ phần Thương mại và Vận tải Tràng An. Việc trả lại các phương tiện trên cho các chủ sở hữu hợp pháp của Công an huyện Cát Hải là đúng quy định pháp luật.

Về các vấn đề khác:

Về án phí hình sự: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

- Tuyên bố bị cáo Lê Đức L phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ",

- Xử phạt bị cáo Lê Đức L 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Thanh Quang, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự như sau:

"1. Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

2. Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Uỷ ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Uỷ ban nhân dân câp xã phải trả lời băng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Uỷ ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

3. Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.

4. Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách"

Huỷ bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 05/2025/HSST-LCĐKNCT, ngày 03/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Cát Hải đối với bị cáo Lê Đức L.

Về án phí hình sự: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thấm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ