- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thị Loan phạm tội "mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251, khoản 6 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự Tuyên bố; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2026/HS-ST Ngày 28-01-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Hồ Điệp
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Cao Thị Hạ
Bà Nguyễn Thị Luyến
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 255/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 308/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2025, Thông báo thay đổi lịch xét xử số 610/TB-TA ngày 27 tháng 10 năm 2025, đối với bị cáo:
Đỗ Thị L (tên gọi khác Đỗ Thúy L), sinh năm 1965 tại Hải Phòng; nơi thường trú và nơi ở hiện nay: Số 7/16 Cầu Đất, phường Cầu Đất, Quận Ngô Quyền (nay là Số 7/16 Cầu Đất, phường Gia Viên), thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nữ; trình độ văn hoá: 7/10; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đỗ Văn Đạm và bà Nguyễn Thị Thái (đều đã chết); có chồng là Đặng Quốc Dũng (đã chết) và có 05 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 09/3/1979, Công an Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử lý hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”; ngày 14/12/1982, Công an quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử lý hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”; ngày 06/10/1987, Công an thành phố Hải Phòng xử lý hành chính về hành vi “xuất cảnh, nhập cảnh trái phép hoặc ở lại nước ngoài trái phép”; Bản án số 47/2007/HS-PT ngày 06/02/2007 của Tòa phúc thẩm tại Hà Nội Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 16 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (đã xóa án tích); tạm giữ từ ngày 09/10/2024 đến ngày 14/10/2024 chuyển tạm giam. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Đặng Thị Thu Hương, địa chỉ: Số 7/16 phố Cầu Đất, phường Gia Viên, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
- Người làm chứng:
Ông Nguyễn Văn Cường, vắng mặt.
Ông Phạm Anh Tú, vắng mặt.
Bà Đinh Thị Bắp, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 15 phút ngày 09/10/2024, tại trước cửa nhà số 40 Lê Chân, phường An Biên, quận Lê Chân (nay là phường Lê Chân), thành phố Hải Phòng, Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Hải Phòng bắt quả tang Đỗ Thị L đang thực hiện hành vi cất giữ trái phép chất ma túy để bán. Cơ quan điều tra thu giữ trong giỏ xe máy điện nhãn hiệu Nijia do L điều khiển 01 túi nilon trong có 01 hộp giấy màu xanh, kích thước (14 x 03 x 08) cm, trong có 02 túi nilon màu trắng kích thước (15 x 10) cm, chứa chất bột màu trắng (mẫu QT1) và 01 gói giấy bạc, trong có 02 túi nilon kích thước (05 x 04) cm, trong đựng 32 viên nén màu đỏ (mẫu QT2). Ngoài ra Cơ quan điều tra còn thu giữ của L 01 điện thoại Iphone màu đen và 01 xe đạp điện nhãn hiệu Nijia màu đen.
Thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Thị L tại số 7/16 Cầu Đất, phường Cầu Đất, quận Ngô Quyền (nay là phường Lê Chân), thành phố Hải Phòng, Cơ quan điều tra thu giữ 01 ống nhựa dài khoảng 04 cm, bên trong chứa các cục chất bột màu trắng (mẫu KX1); 01 túi nilon màu trắng, kích thước (15 x 10) cm bên trong chứa các cục chất bột màu trắng (mẫu KX2); 01 túi nilon kích thước (07 x 04) cm trong có 08 viên nén màu đỏ (mẫu KX3); 01 túi nilon kích thước (02 x 02) cm trong có 04 viên nén màu đỏ (mẫu KX4); 02 đoạn ống nhựa lồng vào nhau, trong có các viên nén màu đỏ (mẫu KX5); 01 gói giấy màu trắng trong có chất bột màu trắng (mẫu KX6); 01 túi nilon kích thước (02 x 02) cm, trong có chất bột màu trắng dạng cục (mẫu KX7); 01 túi nilon kích thước (04 x 06) cm bên trong chứa tinh thể màu trắng (mẫu KX8); cùng nhiều vỏ túi nilon kích thước (02 x 02) cm và (05 x 10) cm, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen đã qua sử dụng, 01 cân điện tử màu nâu, 01 hộp bàn cờ vua (là đồ vật đựng các loại ma túy); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế và 4.470.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 1199 ngày 14/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận:
Chất bột màu trắng của mẫu QT1 có khối lượng 72,52 gam là ma túy Heroine; các viên nén màu đỏ của mẫu QT2 có khối lượng 3,07 gam là ma túy Methamphetamine. Chất bột màu trắng của mẫu KX1 có khối lượng 0,09 gam là ma túy Heroine; chất bột màu trắng của mẫu KX2 có khối lượng 2,30 gam là ma túy Heroine; các viên nén màu đỏ của mẫu KX3 có khối lượng 0,76 gam là ma túy Methamphetamine; các viên nén màu đỏ của mẫu KX4 có khối lượng 0,38 gam là ma túy Methamphetamine; các viên nén màu đỏ của mẫu KX5 có khối lượng 0,47 gam là ma túy Methamphetamine; chất bột màu trắng của mẫu KX6 có khối lượng 0,22 gam là ma túy Heroine; chất bột màu trắng của mẫu KX7 có khối lượng 0,37 gam là ma túy Heroine; tinh thể màu trắng của mẫu KX8 có khối lượng 1,42 gam là ma túy Methamphetamine.
Về nguồn gốc ma túy và hành vi mua bán ma túy của L, tài liệu điều tra xác định:
Đỗ Thị L thường xuyên sử dụng ma túy loại Heroine, Methamphetamine. Từ khoảng tháng 6/2024, L nhiều lần mua ma túy của nhiều người không rõ nhân thân lai lịch tại khu dân cư đường tàu Trần Nguyên Hãn, phường An Biên, thành phố Hải Phòng để sử dụng và bán cho khách. Cơ quan điều tra đã chứng minh được các lần L mua bán ma túy cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Ngày 23/6/2024, một người phụ nữ tên thường gọi là Hải, sử dụng số điện thoại 0934205259 gọi điện thoại cho L hỏi mua cho một người thanh niên tên Hữu 04 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng/gói. Sau này Hữu đã trả cho Hải 600.000 đồng và Hải đã trả cho L 600.000 đồng, còn nợ lại L 200.000 đồng.
Lần thứ hai: Sáng ngày 09/7/2024, tại gần nhà mình, L bán cho Nguyễn Văn Cường, sinh năm: 1977, trú tại số 5/19/210 Cát Linh, tổ dân phố Lương Khê 4, phường Hải An, thành phố Hải Phòng 02 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng/gói.
Lần thứ ba: Sáng ngày 09/10/2024, người thanh niên giới thiệu tên là Chung, nhà ở Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng, sử dụng số điện thoại 0934320238 gọi điện đặt mua của L 02 “cây” ma túy Heroine và 30 viên hồng phiến, hai người chưa thỏa thuận giá mua bán. Đến khoảng gần 13 giờ ngày 09/10/2024, L điều khiển xe đạp điện nhãn hiệu Nijia màu đen đến khu dân cư đường tàu Trần Nguyên Hãn, gặp và mua của một phụ nữ tên Hoa 02 “cây” Heroine và 30 viên hồng phiến với giá 10.000.000 đồng, dự định bán cho Chung với giá 12.000.000 đồng. L cất ma túy vừa mua vào giọ xe đạp điện rồi đi về, khi đi đến trước cửa nhà số 40 Lê Chân, phường Lê Chân, thành phố Hải Phòng thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Đối với số ma túy bị Cơ quan điều tra thu giữ khi khám xét nơi ở, L khai mua của nhiều người để bán nhưng chưa kịp bán được thì bị thu giữ.
Việc thu giữ, quản lý, xử lý vật chứng, tài sản: Số ma túy còn lại sau giám định cùng các đồ vật, tài sản thu giữ của Đỗ Thị L được quản lý tại Tài khoản tạm giữ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng; Kho vật chứng Phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an thành phố Hải Phòng, cần chuyển đến Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng để xử lý trong giai đoạn xét xử và thi hành án. Đối với xe máy điện nhãn hiệu Nijia màu đen là tài sản của chị Đặng Thị Thu Hương, là con gái của L và sống cùng với L. Chị Hương không biết L sử dụng xe để thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, Cơ quan điều tra đã trả xe máy điện cho chị Hương.
Tại bản Cáo trạng số 03/CT-VKS-P1 ngày 09 tháng 10 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Đỗ Thị L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Lời khai của bị cáo Đỗ Thị L tại phiên toà phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra, với biên bản bắt người phạm tội quả tang, nội dung bản Cáo trạng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Phần tranh luận: Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đỗ Thị L như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Thị L.
Xử phạt bị cáo Đỗ Thị L từ 18 năm đến 19 năm tù.
Phạt tiền đối với bị cáo Đỗ Thị L từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự; tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định; các vỏ túi nilon, cân điện tử, chai nhựa, 01 hộp bàn cờ vua đã sử dụng vào việc phạm tội; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen của bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội; trả lại bị cáo 01 điện thoại Masstel màu đen và 4.470.000 đồng do không sử dụng vào việc phạm tội.
Bị cáo là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Đỗ Thị L không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Do bản thân mắc nghiện chất ma túy chưa cai nghiện được, và bản thân hoàn cảnh khó khăn nên bị cáo Đỗ Thị L thường mua ma túy Hê rô in, ma túy đá, hồng phiến về sử dụng cho bản thân sử dụng và nếu có khách mua thì bị cáo bán lại để có tiền tiếp tục mua ma túy sử dụng. Bị cáo khai bán ma túy từ tháng 6 năm 2024, và đã nhiều lần bán ma túy cho nhiều người và cơ quan điều tra đã chứng minh trong khoảng thời gian từ ngày 23 tháng 6 năm 2024 đến ngày 09 tháng 10 năm 2024, bị cáo Đỗ Thị L thực hiện 03 lần mua bán trái phép chất ma túy với tổng khối lượng ma túy là 75,5 gam Heroine và 6,1 gam Methamphetamine. Hành vi phạm tội của bị cáo Đỗ Thị L là rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự xã hội. Ma tuý là tệ nạn xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, làm khánh kiệt kinh tế gia đình và là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua và bán trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Điều 251 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết định khung: Bị cáo có hành vi mua bán trái phép 02 chất ma túy có khối lượng là 75,5gam Heroin và 6,1gam Methamphetamine nên chịu tình tiết định khung tại điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án nhưng đã được xóa án tích nên không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Hình phạt áp dụng đối với đối tượng phạm tội về ma tuý cần phải nghiêm khắc. Bị cáo Đỗ Thị L có 01 tiền án, bị xử phạt 16 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, có 03 tiền sự từ những năm 1979, 1982, 1987 nhưng bị cáo không lấy đó để làm gương cho bản thân, cải tạo thành công dân tốt cho gia đình và xã hội, lại tiếp tục phạm tội mua bán trái phép chất ma túy với khối lượng lớn nên cần thiết cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo là người cao tuổi nên cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo so với mức đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát.
Về hình phạt bổ sung: Cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Đỗ Thị L như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là đúng quy định tại khoản 6 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu, tiêu huỷ toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định do phạm tội mà có; các vỏ túi nilon, cân điện tử, chai nhựa, 01 hộp bàn cờ vua đã sử dụng vào việc phạm tội; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen của bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội; trả lại bị cáo 01 điện thoại Masstel màu đen, 4.470.000 đồng không sử dụng vào việc phạm tội.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đỗ Thị L là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251, khoản 6 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thị L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Đỗ Thị L 17 (mười bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giữ ngày 09 tháng 10 năm 2024.
Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Đỗ Thị L 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng sung vào ngân sách nhà nước.
2. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
2.1. Tịch thu, tiêu hủy:
01 bì thư niêm phong chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định, trên có dấu niêm Phong số 1199MT-A/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, chữ ký Đặng Thị Thu Hương, Đinh Thị Bắp, Hoàng Trọng Nam, Đỗ Thị Hoa, Phạm Anh Tú, Đỗ Thị L;
01 bì giấy niêm Phong chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định, trên có dấu niêm phong số 1199MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, chữ ký Đặng Thị Thu Hương, Đinh Thị Bắp, Hoàng Trọng Nam, Đỗ Thị Hoa, Phạm Anh Tú, Đỗ Thị L;
Các vỏ túi nilon kích thước khoảng 2cm x2cm;
Các túi nilon kích thước 5cm x 10cm;
01 cân điện tử màu nâu;
02 chai nhựa có nắp đục lỗ gắn ống hút bằng nhựa, thân chai có đục lỗ gắn ống hút bằng giấy bạc;
01 hộp bàn cờ vua.
2.2. Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen đã qua sử dụng, số imei: 357279099229089, imei 2: 357279099150350.
2.3. Trả lại bị cáo Đỗ Thị L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen đã qua sử dụng, số imei1: 357620049095635, imei2: 355635048096634 và 4.470.000 đồng.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 10 năm 2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng và theo Ủy nhiệm chi lập ngày 13 tháng 10 năm 2025, đơn vị nhận tiền: Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Đỗ Thị L được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo Đỗ Thị L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Tòa phúc thẩm TANDTC; - Viện Công tố & KSXXPT VKSNDTC; - Vụ 1 - TANDTC; - VKSND TP Hải Phòng; - PV06 Công an TP Hải Phòng; - THADS TP Hải Phòng; - Bị cáo; - Trại tạm giam; - Người tham gia tố tụng; - Phòng GĐ, KT, TT và THA; - Lưu: HS, HCTP. THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Cao Thị Hạ Nguyễn Thị Luyến THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Đặng Huy Du Vũ Thị Minh Nguyệt | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Hồ Điệp THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Hồ Điệp THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Vân Thúy |