- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ - phạm tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân (điều 3…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.
- Căn cứ chính? Điều 36 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2026/HS-ST Ngày: 11-02-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Phương
Bà Lý Thị Tuyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Lệ Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2026/TLST-HS ngày 27 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2026/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ; Sinh năm 1993 tại tỉnh Lào Cai; Số CCCD: 010093003*** cấp ngày 04/5/2021; Nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH; Nơi thường trú: Tổ B, phường T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1973; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/01/2026 cho đến nay (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Qua công tác nắm tình hình trên không gian mạng, ngày 03/9/2025 Phòng An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Công an tỉnh Lai Châu phát hiện tài khoản TikTok với tên “^Anh*Yêu^” do Nguyễn Văn Đ là chủ sở hữu có nhiều bình luận phát ngôn tiêu cực, vu khống, xúc phạm uy tín, danh dự lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ xác định Nguyễn Văn Đ đã thực hiện hành vi như sau: Với mục đích để giải trí, vào tháng 01 năm 2024, Nguyễn Văn Đ đăng ký sử dụng tài khoản TikTok với tên “^Anh*Yêu^”. Tuy nhiên, từ ngày 06/01/2025 đến ngày 04/7/2025, ngoài việc xem các thông tin giải trí, Nguyễn Văn Đ đã xem nhiều clip có nội dung tiêu cực, chứa thông tin sai sự thật, xuyên tạc đối với lãnh đạo Đảng, Nhà nước và sau đó để tăng sự chú ý, tương tác với tài khoản TikTok của mình, Đ đã đăng tải 19 bình luận có nội dung vu khống, xúc phạm danh dự, uy tín Tổng Bí thư Tô Lâm, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và 23 bình luận thể hiện thái độ không tôn trọng Tổng Bí thư Tô Lâm, Đại tướng Lương Tam Quang - Bộ trưởng Bộ Công an.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Về các vấn đề khác của vụ án: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: 01 điện thoại Redmi Note 11 màu đen kèm 02 sim mà Cơ quan điều tra đã thu giữ là của bị cáo dùng vào việc phạm tội.
Tại bản kết luận giám định tư pháp số 90/KL-SVHTTDL/TTBCXB ngày 30/9/2025 và Công văn số 3168/SVHTTDL-TTBCXB ngày 13/11/2025 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lai Châu đối với bình luận của Nguyễn Văn Đ đã kết luận:
- 19 bình luận vu khống, xúc phạm danh dự, uy tín Tổng Bí thư Tô Lâm; lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Các bình luận này tác động tiêu cực đến dư luận xã hội. Vi phạm theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 16 Luật an ninh mạng 2018.
- 23 bình luận thể hiện thái độ không tôn trọng đối với Tổng Bí thư Tô Lâm, Đại tướng Lương Tam Quang - Bộ trưởng Bộ Công an, qua việc sử dụng từ “thằng”, “mày”, “nó” trong bình luận.
Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKSLC-P1 ngày 26/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo khoản 1 Điều 331 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.
Áp dụng khoản 1 Điều 331, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 12 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Lai Châu nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân phường T, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại Redmi Note 11 màu đen kèm 02 sim.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định nêu trên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo chỉ vì thiếu hiểu biết pháp luật nên đã thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình nên xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và xét xử tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo hoàn toàn thống nhất với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án, vì vậy có đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng quyền tự do ngôn luận, từ ngày 06/01/2025 đến ngày 04/7/2025, tại địa bàn tỉnh Lai Châu, Nguyễn Văn Đ đã sử dụng tài khoản TikTok với tên “^Anh*Yêu^” đăng tải 19 bình luận có nội dung vu khống, xúc phạm danh dự, uy tín Tổng Bí thư Tô Lâm; lãnh đạo Đảng, Nhà nước vi phạm quy định tại điểm b khoản 3 Điều 16 Luật an ninh mạng 2018; 23 bình luận thể hiện thái độ không tôn trọng đối với Tổng Bí thư Tô Lâm, Đại tướng Lương Tam Quang - Bộ trưởng Bộ Công an, qua việc sử dụng từ “thằng”, “mày”, “nó” trong bình luận.
Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước, quyền, lợi ích và uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích cá nhân nên vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo là người có đủ năng lực pháp luật để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo khoản 1 Điều 331 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ mà không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên có thể cho bị cáo tự cải tạo tại địa phương để bị cáo thấy được tính nhân đạo của Nhà nước ta mà cố gắng cải tạo thành người công dân có ích cho xã hội.
Căn cứ khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự cần miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo vì bị cáo làm nghề tự do nên thu nhập không ổn định.
Do đó quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai và đúng quy định của pháp luật.
Về vật chứng của vụ án: 01 điện thoại Redmi Note 11 màu đen kèm 02 sim là của bị cáo dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội nên tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước theo điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
. Kiến nghị: Đề nghị các Cơ quan, tổ chức và chính quyền địa phương cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về các quyền tự do dân chủ gắn liền với nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của công dân trong cuộc sống, trên không gian mạng để hạn chế thấp nhất những vi phạm pháp luật bị xử lý về hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 331, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 12 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Lai Châu nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân phường T, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
3. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Redmi Note 11 màu đen kèm 02 sim.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản vào hồi 16 giờ 00 phút ngày 27/01/2026 giữa Công an tỉnh Lai Châu và Thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu).
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa phúc thẩm 1, TAND Tối cao; - Viện phúc thẩm 1, VKSNDTC; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Công an tỉnh Lai Châu (PV06, PA09); - THADS tỉnh Lai Châu; - Bị cáo; - THAHS Công an tỉnh Lai Châu; - UBND phường T; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Phương |