vanban.org

Bản án 14/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 9 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 04/03/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Lê Tấn T 02 (hai) năm tù.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Tấn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tấn Th - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lê Tấn T 02 (hai) năm tù.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 256a Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9-TÂY NINH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2026/HS-ST
Ngày 04-3-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9-TÂY NINH - TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Yến Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Danh Văn Hoàng

Ông Nguyễn Văn Lạc

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9-Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Vũ Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9-Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2026/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2026/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo:

Lê Tấn T, sinh ngày 01/01/1978 tại tỉnh Đồng Tháp. Nơi cư trú: ấp C, xã K, tỉnh Tây Ninh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Không biết chữ; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Lê Văn B, sinh năm 1946 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị M, sinh năm 1949 (đã chết). Bị cáo chưa có vợ nhưng đã ly hôn; Có con tên Lê Thị Ánh T1, sinh năm 2007 và Lê Tấn T2, sinh năm 2015. Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 17/10/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 - Tây Ninh) quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 21 tháng, theo Quyết định số 10/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 13/6/2025.

Về nhân thân: Ngày 30/01/2023 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã K, huyện V, tỉnh Long An xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản", theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 33/QĐ-XPHC.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/12/2025 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam T thuộc Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh T. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Tấn T là đối tượng quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số: 464/QĐ-UBND ngày 16/06/2025 của UBND xã K, huyện V, tỉnh Long An (nay là xã K, tỉnh Tây Ninh), thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú từ ngày 16/06/2025 đến ngày 16/06/2027.

Vào khoảng 14 giờ 00 ngày 24/09/2025, Lê Tấn T sang nhà người bạn tên S ở Campuchia chơi Tết (Lễ cúng Chum của người Campuchia) tại khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia, thuộc ấp C, xã K, tỉnh Tây Ninh. Sau khi chơi tết xong, Lê Tấn T nhờ S đi mua ma túy và dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy của một người Campuchia với giá 300.000 đồng. Khi nhận ma túy từ S, Lê Tấn T mang đến khu vực biên giới Campuchia, vào một chòi (nhà ở tạm) không ai ở, một mình sử dụng hết số ma túy đã mua, vứt bỏ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy, rồi đi về nhà. Đến khoảng 13 giờ 00 phút ngày 27/09/2025, Công an xã K, tỉnh Tây Ninh mời Lê Tấn T về trụ sở Công an xã để xét nghiệm ma túy. Kết quả xét nghiệm xác định Lê Tấn T dương tính với chất ma túy Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số 2100/KL-KTHS ngày 11 tháng 10 năm 2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu nước tiểu của Lê Tấn T, sinh năm 1978, nơi thường trú: ấp C, xã K, tỉnh Tây Ninh, được niêm phong gửi giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số 20/CT-VKSKV9 ngày 09/02/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Tây Ninh đã quyết định truy tố bị cáo Lê Tấn T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a, Điều 32, Điều 38, Điều 50, điểm i, s khoản 1 Điều 51Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam. Căn cứ vào Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Tấn T 45 (bốn mươi lăm ngày), kể từ ngày tuyên án (04/3/2026) để đảm bảo công tác thi hành án. Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Tấn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Về vật chứng: Không có.

Về trách nhiệm dân sự: Không có.

Đối với người tên S đã cung cấp ma túy cho Lê Tấn T sử dụng trái phép, hiện không xác định được họ tên, địa chỉ và sự việc xảy ra thuộc địa phận lãnh thổ Campuchia nên không có căn cứ xử lý.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, tỏ thái độ ăn năn hối cải, bị cáo thống nhất toàn bộ nội dung Cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quyết định tố tụng và hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai trước Cơ quan Cảnh sát điều tra tỉnh Tây Ninh, đúng với nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-Tây Ninh đã truy tố các bị cáo, đồng thời phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ nên có đủ cơ sở kết luận: Lê Tấn T là đối tượng đang quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy. Khoảng 14 giờ 00 ngày 24/09/2025, Lê Tấn T đi sang Campuchia, nhờ người bạn tên S mua 300.000đ ma túy và dụng cụ sử dụng ma tuý mang về khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia (phía bên Campuchia) sử dụng. Đến khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 27/09/2025, Công an xã K, tỉnh Tây Ninh test nhanh ma tuý, kết quả T dương tính với chất ma tuý loại methamphetamine.

Ngày 11/10/2025, Phòng K Công an tỉnh T có Bản kết luận giám định số: 2100/KL-KTHS, kết luận: mẫu nước tiểu của Lê Tấn T gửi giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine.

Bị cáo Lê Tấn T là người đã thành niên có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine trong thời gian quản lý sau cai nghiện bắt buộc. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo với tội danh nói trên là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma túy. Hiện nay, tệ nạn ma túy trên địa bàn xã K cũng như những địa phương khác vẫn đang diễn biến phức tạp gây ra nhiều hệ lụy xấu cho bản thân người sử dụng ma túy cũng như gia đình, xã hội nơi có người nghiện ma túy sinh sống và tiềm ẩn nhiều nguy cơ khác, gây mất an ninh trật tự xã hội. Việc nghiện ma túy sẽ làm tổn hại đến hệ thần kinh, thoái hóa nhân cách, rối loạn hành vi, dễ dẫn đến vi phạm pháp luật. Do vậy, cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc với loại tội phạm này nhằm mục đích cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và cũng để răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Để có cơ sở đưa ra mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội cần phân tích đánh giá về nguyên nhân, động cơ dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

Về nguyên nhân, động cơ dẫn đến hành vi phạm tội xuất phát từ lối sống buông thả, mất kiểm soát của bản thân bị cáo trước cám dỗ của các tệ nạn xã hội, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Sau khi cân nhắc, xem xét toàn diện chứng cứ, các tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và để phòng ngừa chung cho xã hội.

Về vật chứng: Không có.

Về trách nhiệm dân sự: Không có.

Đối với người tên S đã cung cấp ma túy cho Lê Tấn T sử dụng trái phép, hiện không xác định được họ tên, địa chỉ và sự việc xảy ra thuộc địa phận lãnh thổ Campuchia nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quan điểm và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a, Điều 38, Điều 50, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê Tấn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Tấn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 08/12/2025).

Căn cứ vào Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Tấn T 45 (bốn mươi lăm ngày), kể từ ngày tuyên án (04/3/2026) để đảm bảo công tác thi hành án.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Tấn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 Bộ luật Tố tụng Hình sự, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ