vanban.org

Bản án 14/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Dương Văn Q phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 33 (ba mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 29/10/2025.

Án phí: Bị cáo Dương Văn Q phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn Q phạm tội: "Sử dụng trái phép chất ma túy". - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Văn Q phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 33 (ba mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 29/10/2025.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2026/HS-ST
Ngày 20-01-2026.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Sơn.

Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Kiểm và bà Lê Thị Oanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Chính - Thẩm tra viên.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 142/2025/TLST-HS ngày 31/12/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2026/QĐXXST-HS ngày 09/01/2026 đối với bị cáo:

Dương Văn Q, sinh năm 1987 tại Ninh Bình; số CCCD: 0350870083..; nơi cư trú: Tổ N, phường Phủ Lý, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn H và bà Ngô Thị T; có vợ là Nguyễn Thị L, sinh năm 1988 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2014; tiền án: Ngày 12/8/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam (cũ) xử phạt 30 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/11/2021 nhưng chưa chấp hành hình phạt bổ sung (phạt tiền) và thực hiện nghĩa vụ nộp tiền bị truy thu của bản án; tiền sự: Ngày 20/7/2022, Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (cũ) quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 01/8/2024; nhân thân: Ngày 26/9/2003, Công an thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (cũ) xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 250.000đồng về hành vi: “Đánh bạc”. Ngày 09/03/2005, UBND xã Liêm Chung, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (cũ) xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 200.000đồng về hành vi: “Trộm cắp tài sản”. Ngày 28/01/2010, UBND thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (cũ) quyết định đưa đối tượng nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc, thời hạn 24 tháng; bị bắt, tạm giữ ngày 29/10/2025, tạm giam từ ngày 07/11/2025 đến nay; có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Lại Văn H, sinh năm 1960; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Văn Q là người đang trong thời hạn bị quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 55/2024/QĐ-UBND ngày 01/8/2024 của UBND xã Liêm Chung, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (cũ), thời hạn là 02 năm kể từ ngày 01/8/2024 đến ngày 01/8/2026. Khoảng 08 giờ ngày 18/10/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Dương Văn Q đã mượn xe môtô biển kiểm soát: 22H5-1331 của anh Phạm Hải Triều, sinh năm 1993 ở tổ 3, phường Phủ Lý, tỉnh Ninh Bình rồi điều khiển xe môtô từ nhà đi đến khu vực Siêu thị GO Nam Định thuộc phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, Q gặp một người đàn ông không quen biết khoảng 45 tuổi, Q hỏi mua ma túy loại Heroine của người đàn ông rồi lấy ra số tiền 500.000đồng đưa cho người này, người đàn ông cầm tiền, điều khiển xe môtô bỏ đi đâu đó khoảng 30 phút sau quay lại đưa cho Q 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng. Biết đó là gói ma túy Heroine nên Q cầm lấy, cất vào bên trong túi quần rồi điều khiển xe môtô đi về. Sau khi về nhà, Q đi đến trước cửa bếp trong nhà lấy gói ma túy mua được ra đổ toàn bộ số ma túy vào trong mảnh giấy bạc (lấy trong vỏ bao thuốc lá Sài Gòn) rồi sử dụng bật lửa đốt cháy chất ma túy Heroine trong giấy bạc để hít khói ma túy vào cơ thể qua đường hô hấp. Sau khi sử dụng ma túy, Q vứt mảnh giấy bạc gói ma túy và mảnh giấy bạc dùng để sử dụng ma túy ở khu đất bên cạnh bếp nhà Q. Khoảng 10 giờ ngày 29/10/2025, Công an phường Phủ Lý, tỉnh Ninh Bình kiểm tra, rà soát các đối tượng nghiện ma túy đang quản lý thông qua hình thức test nhanh chất ma túy trong cơ thể, kết quả Dương Văn Q dương tính với chất ma túy Heroine. Lực lượng Công an đã mời người chứng kiến, lập biên bản vụ việc theo quy định và thu giữ mẫu nước tiểu của Dương Văn Q niêm phong ký hiệu NT để phục vụ giám định.

Vật chứng thu giữ của vụ án: 01 mẫu nước tiểu của Dương Văn Q đựng trong chai nhựa niêm phong ký hiệu NT.

Tại Kết luận giám định số 1698/KL-KTHS ngày 02/11/2025, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Tìm thấy chất O-6-Monoacetylmorphine, Morphine, Acetylcodeine, Codeine là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Heroine trong mẫu nước tiểu ký hiệu NT ghi thu của Dương Văn Q gửi giám định”.

Quá trình điều tra, Dương Văn Q đã khai nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức hít ma túy vào cơ thể trong thời gian đang bị quản lý sau cai nghiện. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm mảnh giấy bạc gói ma túy Heroine, mảnh giấy bạc và chiếc bật lửa gas màu đỏ Dương Văn Q dùng để sử dụng trái phép chất ma túy ngày 18/10/2025 nhưng không thu hồi được.

Bản Cáo trạng số 101/CT-VKS-KV5 ngày 31/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đã truy tố Dương Văn Q về tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên quan điểm không thay đổi, bổ sung về nội dung đã truy tố đối với bị cáo Dương Văn Q, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025):

- Xử phạt Dương Văn Q từ 30 tháng đến 33 tháng tù.

- Xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Dương Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình truy tố. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với người tham gia tố tụng là người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Dương Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với chứng cứ của vụ án được thẩm tra trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa như biên bản vụ việc; biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc, thu giữ và niêm phong mẫu vật nước tiểu, xác minh về người đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy; sơ đồ hiện trường; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến; hồ sơ, lý lịch của bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Dương Văn Q là người đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy từ ngày 01/8/2024 đến ngày 01/8/2026 theo Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 55/QĐ-UBND ngày 01/8/2024 của UBND xã Liêm Chung, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (cũ) nhưng đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại Heroine tại nơi ở thuộc tổ N, phường Phủ Lý, tỉnh Ninh Bình, bị Công an phường Phủ Lý, tỉnh Ninh Bình kiểm tra, phát hiện ngày 29/10/2025. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy” và thuộc trường hợp: “Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Điều 256a của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định:

“1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:

b. Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy.”

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình truy tố đối với bị cáo Dương Văn Q về tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025) là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

4.1. Về nhân thân: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; có nhân xấu do đã bị kết án về tội: “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích; bản thân đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có thời hạn (chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính) và đã từng bị xử phạt hành chính về các hành vi: “Đánh bạc”, “Trộm cắp tài sản”, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có thời hạn (đều đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính).

4.2. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kết án về tội: “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích lại phạm tội mới do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là: “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 và khoản 1 Điều 53 của Bộ luật Hình sự.

4.3. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội đã thực hiện nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của bị cáo, làm gia tăng vấn nạn ma túy là nguyên nhân chính dẫn đến lây nhiễm HIV/ADIS mà còn gây ra các nguy cơ về an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người đã nhiều lần bị xử lý hành chính bằng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, bản thân nhận thức được tác hại của ma túy, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm và gây nguy hiểm cho xã hội nhưng do không quyết tâm rèn luyện, tu dưỡng bản thân, từ bỏ ma túy nên đã thực hiện hành vi phạm tội do cố ý vì động cơ, mục đích thỏa mãn nhu cầu không lành mạnh của bản thân. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm bị cáo đã thực hiện và nhân thân xấu của bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích, tăng cường tính răn đe của pháp luật, đảm bảo hiệu lực các biện pháp quản lý, cai nghiện ma túy đồng thời nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh ngăn chặn, phòng chống tội phạm về ma túy.

Về tình tiết khác của vụ án: Đối với người đàn ông gặp ở khu vực Siêu thị GO Nam Định thuộc phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình theo Dương Văn Q khai là người đã bán ma túy cho bị cáo để sử dụng trái phép, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh để làm rõ nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ của người này, ngoài lời khai của bị cáo ra thì không còn có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý trong vụ án là có cơ sở.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 256a, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 53 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025); khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các điều 329, 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án kèm theo danh mục án phí, lệ phí Tòa án:

1. Tuyên bố bị cáo Dương Văn Q phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 33 (ba mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 29/10/2025.

2. Án phí: Bị cáo Dương Văn Q phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ