- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn M - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội, Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2026/HS-ST Ngày 04-02-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Hải Đoàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vi Thành Trung.
Bà Trịnh Thị Thuý Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vy Khánh Ly - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4
- Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Hứa Thuỳ Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2026/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2026/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2026, đối với bị cáo:
Trần Văn M, sinh ngày 26 tháng 7 năm 1984, tại tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú: Xóm T, xã G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc G (đã chết) và bà Hoàng Thị L; có vợ là Doãn Thị C (đã ly hôn) và 01 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/10/2025 đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Ông Lưu Văn R, sinh năm 1955. Địa chỉ: Số A, đường T, thôn T, xã C, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Công ty TNHH T. Địa chỉ: B N, phường H, thành phố Hải Phòng.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1978. Địa chỉ: Thôn B H, xã V, thành phố Hải Phòng, Chức vụ - Giám đốc, là người đại diện theo pháp luật. Vắng mặt.
2. Ông Trần Văn B, sinh năm 1983. Địa chỉ: Xóm T, xã G, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn M có giấy phép lái xe ô tô hạng FC nhưng đã hết hạn vào ngày 03/12/2024, do chưa đi làm thủ tục để cấp lại giấy phép lái xe nên M đã tự ý lấy giấy phép lái xe ô tô hạng A1, FC và căn cước công dân của anh trai ruột là Trần Văn B để đi xin việc. Ngày 01/5/2025, Trần Văn M đến Công ty TNHH T (gọi tắt Công ty T) để xin việc và tự nhận tên là “Trần Văn B”, M làm việc trực tiếp với Giám đốc Công ty là ông Nguyễn Văn H, sau khi kiểm tra giấy phép lái xe và căn cước công dân do M cung cấp thấy gương mặt hoàn toàn giống M nên ông H đã tin tưởng và ký hợp đồng lao động nhận M vào lái xe thử việc cho Công ty T trong thời hạn là 03 tháng kể từ ngày 01/5/2025.
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 13/7/2025, theo sự điều động của Công ty T, M điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 15H-037.92, kéo theo sơ mi rơ moóc gắn biển số 15R-188.94 đi từ khu công nghiệp Q, tỉnh Bắc Ninh đến cửa khẩu H1, tỉnh Lạng Sơn để nhận và chở hàng cho Công ty T. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày M điều khiển xe về khu công nghiệp Q, tỉnh Bắc Ninh. Đến khoảng 19 giờ 50 phút cùng ngày, khi đi đến K+900 Quốc lộ A thuộc địa phận thôn H, xã C, tỉnh Lạng Sơn, trong đoạn đường hơi cong cua về phía bên phải, M điều khiển xe đi trên làn đường dành cho xe ô tô, xe mô tô bên phải theo hướng Lạng Sơn - Hà Nội đã đi lấn sang làn đường dành cho xe mô tô, xe thô sơ và người bộ hành cùng chiều, do thiếu chú ý quan sát nên xe ô tô do M điều khiển đã xảy ra va chạm với xe ô tô biển số 12A-203.64 do ông Lưu Văn R điều khiển, đang đỗ tại làn đường dành cho xe mô tô, xe thô sơ và người bộ hành bên phải phía trước cùng chiều, làm xe ô tô biển số 12A-203.64 bị văng ra bãi đất trống ngoài lề đường bên phải theo hướng Lạng Sơn - Hà Nội, hậu quả hai phương tiện hư hỏng.
Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường, sơ đồ, bản ảnh hiện trường, dữ liệu điện tử cùng các tài liệu, chứng cứ thu thập được, xác định: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn được mô tả theo hướng Lạng Sơn - Hà Nội, là đoạn đường hai chiều, hơi cong cua về phía bên phải, mặt đường trải bê tông nhựa, vạch tim đường màu vàng vạch đơn nét liền phân chia hai chiều xe chạy, hai bên đường có vạch kẻ sơn liền màu trắng phân chia phần đường giành cho xe cơ giới với phần đường dành cho xe mô tô, xe thô sơ và người đi bộ. Làn đường dành cho xe ô tô, xe mô tô bên phải rộng 3,4m, bên trái rộng 3,4m. Làn đường dành cho xe mô tô, xe thô sơ và người đi bộ bên phải rộng 1,4m, bên trái rộng 1,4m. Bên phải hiện trường hướng Lạng Sơn - Hà Nội có biển số R.420 “Bắt đầu khu vực đông dân cư” và biển cảnh báo số W245b “Đi chậm”. Xác định điểm va chạm của vụ tai nạn tại làn đường dành cho xe mô tô, xe thô sơ và người đi bộ bên phải hướng Lạng Sơn - Hà Nội.
Tại phiếu kết quả hoá sinh, phiếu kết quả nước tiểu ngày 13/7/2025, của Trung tâm y tế K: Định lượng Ethanol (cồn) của Trần Văn M dưới ngưỡng phát hiện; dương tính với các chất ma túy Morphine, A, C1. Tại phiếu kết quả hoá sinh ngày 13/7/2025, của Trung tâm y tế K, biên bản kiểm tra chất ma tuý trong nước tiểu: Định lượng E (cồn) của Lưu Văn R dưới ngưỡng phát hiện; âm tính với các chất ma tuý.
Tại Kết luận giám định kỹ thuật số: 120/GĐKT-ĐK ngày 18/8/2025, của Công ty cổ phần đăng kiểm xe cơ giới tỉnh L, kết luận: Xe ô tô đầu kéo biển số: 15H-037.92, Sơ mi rơ moóc có số khung RR2LNEXTZGVB07008 khi xảy ra tai nạn, các hệ thống an toàn của xe đầy đủ, hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn kỹ thuật; Xe ô tô biển số: 12A-203.64 khi xảy ra tai nạn: Đèn tín hiệu phía sau do xe tai nạn hư hỏng không có đủ cơ sở để kết luận. Hệ thống đèn chiếu sáng, các đèn tín hiệu phía trước đầy đủ hoạt động bình thường. Các hệ thống an toàn khác của phương tiện đầy đủ, hoạt động bình thường đảm bảo an toàn kỹ thuật.
Tại Kết luận giám định số: 575/KL-KTHS ngày 27/7/2025, của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Mẫu nước tiểu thu được của Trần Văn M gửi giám định tìm thấy chất ma túy Methamphetamine.
Tại Kết luận giám định số: 595/KL-KTHS ngày 31/7/2025, của Phòng K1 Công an tỉnh L, kết luận: Dấu vết vỡ khuyết, cong móp, trượt xước kim loại mất sơn màu xanh, bám dính chất màu trắng dạng sơn và chất màu đen dạng nhựa, tổng diện 47cm x 35cm x 210cm, chiều hướng từ trước về sau, điểm thấp nhất cách mặt đất 46cm, điểm cao nhất cách mặt đất 89cm phía trước, bên phải mặt sàn gồm cụm đèn tín hiệu, giá lắp cụm đèn tín hiệu và cạnh sắt xi của sơ mi rơ moóc biển số 15R-188.94 phù hợp với dấu vết bẹp lõm cong vênh, vỡ rời, trượt xước mất sơn màu trắng và nhựa màu đen, bám dính chất màu xanh dạng sơn, tổng diện 51cm x 16cm chiếu hướng từ sau về trước, điểm thấp nhất cách mặt đất 39cm, điểm cao nhất cách mặt đất 90cm tại góc phía dưới, bên trái nắp cốp sau và góc bên trái ba đờ sốc phía sau xe ô tô biển số 12A-203.64.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 81/KL-HĐĐG ngày 05/9/2025, của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Lạng Sơn, kết luận: Giá trị phần thiệt hại của sơ mi rơ moóc biển số 15R-188.94 tại thời điểm định giá tháng 7/2025 là 990.000 đồng; Giá trị phần thiệt hại của xe ô tô biển số 12A-203.64 tại thời điểm định giá tháng 7/2025 là 127.700.000 đồng.
Về bồi thường: Trong quá trình giải quyết vụ án hai bên đã tự nguyện thoả thuận bồi thường xong với tổng số tiền 200.000.000 đồng, bị hại đã nhận đủ tiền không yêu cầu bồi thường thêm và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Với nội dung như trên Cáo trạng số: 39/CT-VKSKV4 ngày 14 tháng 01 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Trần Văn M, về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố.
Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm buộc tội như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về dân sự xác nhận bị cáo đã thực hiện xong việc bồi thường về dân sự nên không xem xét giải quyết. Về vật chứng, áp dụng điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng FC mang tên Trần Văn M; trả lại cho ông Trần Văn B 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng A1, FC mang tên Trần Văn B. Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 19 giờ 50 phút ngày 13/7/2025 tại Km 51+900 Quốc lộ A thuộc địa phận thôn H, xã C, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Trần Văn M điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 15H-037.92, kéo theo sơ mi rơ mooc gắn biển số 15R-188.94 theo hướng Lạng Sơn - Hà Nội, do không chấp hành các quy định về an toàn giao thông đường bộ nên đã gây ra tai nạn với xe ô tô biển số 12A-203.64 do ông Lưu Văn R điều khiển, đang đỗ tại làn đường dành cho xe mô tô, xe thô sơ và người đi bộ bên phải phía trước cùng chiều, hậu quả xe ô tô biển số 12A-203.64 bị hư hỏng thiệt hại về tài sản trị giá 127.700.000 đồng.
Khi điều khiển xe ô tô gây tai nạn bị cáo Trần Văn M không có giấy phép lái xe theo quy định, trong cơ thể có chất ma tuý Methamphetamine. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Trần Văn M về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự, là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét về mức độ lỗi: Bị cáo Trần Văn M trong quá trình tham gia giao thông đã không tuân thủ đúng các quy tắc giao thông đường bộ như, không có giấy phép lái xe theo quy định, trong cơ thể có chất ma tuý, không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ, không đi đúng làn đường, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong đoạn đường có cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường, trong khu vực đông dân cư, thiếu chú ý quan sát nên dẫn đến tai nạn, do đó đã vi phạm khoản 1, 3 Điều 9, khoản 1 Điều 10, điểm b, e khoản 3 Điều 12 của Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024. Đối với ông Lưu Văn R đỗ xe tại làn đường dành cho xe mô tô, xe thô sơ không có báo hiệu bằng đèn khẩn cấp hoặc đặt biển cảnh báo phía sau xe, đã vi phạm khoản 3, 7 Điều 18 của Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024. Hội đồng xét xử xác định mức độ lỗi gây tai nạn nguyên nhân của bị cáo là phần lớn.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm những quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự trên địa bàn.
Về nhân thân: Bị cáo là người sử dụng chất ma tuý, lần phạm tội này là lần đầu. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại; bị hại có lỗi, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng không có.
Về bồi thường thiệt hại: Trước khi mở phiên toà bị cáo và bị hại đã tự nguyện thoả thuận bồi thường xong với tổng số tiền 200.000.000 đồng. Trong quá trình tố tụng bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ai yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị mức hình phạt tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý vật chứng căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với Giấy phép lái xe ô tô hạng FC mang tên Trần Văn M do đã hết giá trị nên tịch thu tiêu hủy. Đối với Giấy phép lái xe ô tô hạng A1, FC mang tên Trần Văn B, xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án trả lại cho ông Trần Văn B. Đối với xe ô tô 12A-203.64 và xe ô tô đầu kéo 15H-037.92, kéo theo sơ mi rơ moóc 15R-188.94 cùng các giấy tờ liên quan, trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã xử lý nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
Về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Trần Văn M vào ngày 11/7/2025, qua xác minh Trần Văn M không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự nên hành vi không cấu thành tội Sử dụng trái phép chất ma tuý. Đối với việc Trần Văn M trình bày ngày 11/7/2025, mua 300.000 đồng ma tuý đá với một người đàn ông không quen biết tại chợ G1, do hành vi mua ma tuý không thuộc thẩm quyền giải quyết nên ngày 15/7/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã gửi các tài liệu liên quan đến Công an xã G, tỉnh Ninh Bình để xác minh xử lý theo thẩm quyền là phù hợp.
Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14.
Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội, Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
2. Xử phạt bị cáo Trần Văn M, 03 (ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/10/2025.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng FC số: 310120003064 mang tên Trần Văn M (do hết giá trị).
- Trả lại cho ông Trần Văn B: 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng A1, FC số: 310163842459 mang tên Trần Văn B.
(Vật chứng hiện Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Lạng Sơn đang quản lý, chi tiết được mô tả theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 15 tháng 01 năm 2026)
4. Về án phí: Bị cáo Trần Văn M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, để nộp ngân sách Nhà nước.
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Lạng Sơn; - VKSND khu vực 4 - Lạng Sơn; - Cơ quan điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Lạng Sơn; - Phân trại tạm giam Hữu Lũng; - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Lạng Sơn; - Bị cáo; bị hại; NCQLNVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Hải Đoàn |