- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn S - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn S phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2026/HS-ST Ngày 22-01-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LẠNG SƠN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bàn Văn Tiển.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Tuyên;
Bà Đàm Thiếu Phương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Hữu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lộc Nam Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2026, tại Hội trường trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2026/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:
Lê Văn S, tên gọi khác: Không; sinh ngày 01 tháng 5 năm 1994 tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; số căn cước công dân: 020094006067 cấp ngày 27/6/2021, nơi cấp: Cục C06 – Bộ Công an; con ông Lê Văn T và bà Hoàng Thị P; có vợ: Y S; con: Có 01 con, sinh năm 2021; tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự, năm 2023 bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Lạng Sơn quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn là 22 tháng (Quyết định số 03/QĐ-TA ngày 01/02/2023), ngày 27/11/2024 chấp hành xong quyết định, nhưng chưa được xóa tiền sự theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính; nhân thân: Chưa bị xử lý hình sự, đã bị xử phạt vi phạm hành chính: Năm 2022 bị Công an huyện T, tỉnh Lạng Sơn quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt cảnh cáo, về hành vi: Sử dụng trái phép chất ma túy (Quyết định số 169/QĐ-XPHC ngày 31/10/2022), bị cáo đã chấp hành xong, ngoài ra bị cáo có 01 tiền sự như đã nêu trên; chưa bị xử lý kỷ luật; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam T thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Lạng Sơn từ ngày 03/10/2025 đến nay, có mặt.
Người làm chứng: Anh Nguyễn Minh H, sinh năm 1999.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thực hiện công tác quản lý người nghiện chất ma túy trên địa bàn xã T, tỉnh Lạng Sơn, hồi 09 giờ 40 phút ngày 24/9/2025, Công an xã T triệu tập Lê Văn S, trú tại: Thôn P, xã T, tỉnh Lạng Sơn là đối tượng đang quản lý sau cai nghiện theo Quyết định số 742/QĐ-UBND ngày 26/12/2024 của Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú thời hạn 02 năm, có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Công an xã T phối hợp với Trạm y tế xã T tiến hành test (xét nghiệm) bằng que thử phát hiện nhanh chất ma túy trong nước tiểu đối với Lê Văn S, kết quả: Lê Văn S dương tính với chất ma túy trong cơ thể. Công an xã T đã tiến hành lập biên bản sự việc đồng thời tiến hành thu mẫu nước tiểu để giám định theo quy định.
Tại Bản kết luận giám định số 827/KL-KTHS ngày 27/9/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, kết luận: Tìm thấy chất ma túy Morphine trong mẫu nước tiểu gửi giám định thu của Lê Văn S.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Văn S khai nhận:
Trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, Lê Văn S vẫn thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức sử dụng là chích, lần gần đây nhất sử dụng là khoảng 10 giờ 00 phút ngày 21/9/2025 Lê Văn S đi từ nhà ra xã T để bán quả hồi, sau đó S đến quầy bán thuốc tại thôn N, xã T, tỉnh Lạng Sơn mua 01 ống xilanh và 01 lọ nước cất rồi đi bộ đến khu vực thôn B, xã T, tỉnh Lạng Sơn mua 01 gói ma túy Heroine, giá 200.000 đồng với một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ). Sau khi mua được ma túy S đến khu đồi mộ ở thôn B, xã T đem gói ma túy ra sử dụng hết, bằng hình thức chích. Ngày 24/9/2025, Lê Văn S được triệu tập đến trụ sở Công an xã T, tỉnh Lạng Sơn để làm việc thì bị phát hiện.
Với nội dung sự việc trên, tại bản Cáo trạng số 27/CT-VKSKV2 ngày 12/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Lê Văn S về tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn S đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội theo như bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội không bị oan sai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lạng Sơn trong phần tranh luận, vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn S phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy, áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 38; Điều 50; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn S từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù.
Xử lý vật chứng: Không có.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; lời nói sau cùng bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đã ăn năn hối cải, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, xử cho bị cáo mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa vắng mặt người người làm chứng anh Nguyễn Minh H. Hội đồng xét xử nhận thấy người làm chứng trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra và được lưu trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của anh H không ảnh hưởng đến phiên tòa. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội đối với bị cáo Lê Văn S: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Cụ thể bị cáo Lê Văn S là đối tượng đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, tuy nhiên ngày 21/9/2025 Lê Văn S có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Heroin bằng hình thức chích. Ngày 24/9/2025 Công an xã T, tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Trạm y tế xã tiến hành xét nghiệm xác định dương tính với chất ma túy Heroin. Qua giám định, kết luận, tìm thấy chất ma túy trong mẫu nước tiểu thu giữ của Lê Văn S. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn truy tố bị cáo Lê Văn S về tội Sử dụng trái phép chất ma túy, theo điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Lê Văn S là ít nghiêm trọng, nhưng nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, góp phần tạo ra những lớp người nghiện, là hiểm họa gây ra các tệ nạn xã hội, đe dọa đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe của cộng đồng và gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo nhận thức được ma túy là chất độc hại, bị nhà nước cấm sử dụng. Bị cáo đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, tuy nhiên ngày 21/9/2025 Lê Văn S có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Heroin bằng hình thức chích. Qua giám định, kết luận, tìm thấy chất ma túy trong mẫu nước tiểu thu giữ của Lê Văn S, vì vậy cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân: Bị cáo Lê Văn S chưa có tiền án; tiền sự: Có 01 tiền sự, năm 2023 bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Lạng Sơn quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn là 22 tháng (Quyết định số 03/QĐ-TA ngày 01/02/2023). Ngày 27/11/2024 chấp hành xong quyết định, nhưng chưa được xóa tiền sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngoài tình tiết định khung hình phạt bị cáo không có tình tiết tăng nặng khác. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với người đã bán ma túy Heroin cho bị cáo Lê Văn S vào ngày 21/9/2025 tại thôn B, xã T, tỉnh Lạng Sơn. Do không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ, nên được chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Không có.
Về án phí: Bị cáo Lê Văn S bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án để nộp ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 38; Điều 50; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 329; Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn S phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn S 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo bị tạm giam tại phân trại tạm giam T thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Lạng Sơn là ngày 03 tháng 10 năm 2025.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Văn S 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn S phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND khu vực 2 - Lạng Sơn; - PV06, PC10 Công an tỉnh Lạng Sơn; - Phòng THADS khu vực 2 – Lạng Sơn; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bàn Văn Tiển |