- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Đăng Thực - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo T.Đ.T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2025/HS-ST Ngày 28/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thùy Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Xuân Hiến
Ông Dương Quốc Hưng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huyền Chi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Vi Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở UBND xã Tân Quang, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.Tòa án nhân dân thành phố Sông Công xét xử công khai lưu động vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: T.Đ.T , sinh ngày 16/12/1979, tại: xã T , huyện Đ , tỉnh Thái Nguyên; Nơi thường trú: Xóm Q , xã T , huyện Đ , tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Sán chỉ; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông T.Đ.N và bà Đ.T.L; bị cáo có vợ là L.T.L, sinh năm 1980 (đã ly hôn); Con: Có 01 con sinh năm 2002.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Thái Nguyên. (Cómặt )
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Dung, sinh năm 1972 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thái Nguyên (Có mặt)
- Người chứng kiến:
- Ông L.V H, sinh năm 1989. Địa chỉ: Xóm T, xã T, thành phố S, tỉnh T. (Vắng mặt)
- Ông N.V.H , sinh năm 1974. Địa chỉ: Xóm T, xã T, thành phố S, tỉnh T.. ( Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 02/01/2025, Tổ công tác Công an xã Tân Quang, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực đường 36m, thuộc xóm Mới, xã Tân Quang, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên phát hiện T.Đ.T có biểu hiện nghi vấn liên quan đến tội phạm ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, T tự nguyện lấy ra từ túi áo khoác bên trái đang mặc trên người giao nộp 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng, T khai là ma túy, loại Heroine, T mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản quả tang, niêm phong vật chứng rồi đưa T về Công an xã Tân Quang để giải quyết theo quy định pháp luật.
Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an thành phố Sông Công tiến hành trưng cầu giám định số chất bột màu trắng thu giữ của T.Đ.T . Tại kết luận giám định số 153/KL-KTHS ngày 10/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong bì niêm phong kí hiệu A1 gửi giám định chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,300 gam.
Quá trình điều tra và tại phiên toà T.Đ.T khai nhận: Bản thân T là người nghiện ma túy. Khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 02/01/2025, T bắt xe khách từ nhà ở xóm Q , xã T , huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên đến nút giao Sông Công rồi sau đó đi nhờ xe của người dân đi đường đến khu vực đường dân sinh thuộc xóm Mới, xã Tân Quang, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, T gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi ( T không quen biết) hỏi mua ma túy với giá 200.000đồng, người đàn ông trên đồng ý bán ma túy cho T , T đưa tiền cho người đàn ông trên và nhận từ người này 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa ma túy và cất vào túi áo khoác bên trái đang mặc trên người rồi đi đến khu vực bãi đất trống thuộc thuộc xóm Mới, xã Tân Quang, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên để sử dụng thì bị Tổ công tác Công an xã Tân Quang phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng nêu trên.
Vật chứng, chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án: 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có mẫu vật hoàn trả sau giám định là 0,283gam chất ma túy, loại heroine và vỏ bao gói; 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có vỏ bì ký hiệu A và vỏ túi nilon. Hiện đang được bảo quản theo quy định theo đúng quy trình quản lý vật chứng.
Tại bản cáo trạng số 14/CT – VKS ngày 04/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo T.Đ.T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo T về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo T từ 18 đến 24 tháng tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có 0,238 gam mẫu còn lại sau giám định và 01 gói mẫu A2, trong đó có vỏ ký hiệu A và vỏ túi nilon;
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày bào chữa: Nhất trí với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị miễn án phí hình sự đối với bị cáo T ; Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến điều kiện hoàn cảnh: Thời điểm phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn gia đình thuộc hộ nghèo, xem xét cho bị cáo được hưởng mức án từ 15 đến 18 tháng tù.
Bị cáo T.Đ.T không tranh luận, thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép ma túy của mình đúng như Kết luận điều tra và Cáo trạng truy tố, bị cáo đã nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sông Công, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã T hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã T hiện đều hợp pháp.
Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 02/01/2025, tại khu vực đường 36m, thuộc xóm Mới, xã Tân Quang, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, T.Đ.T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,300 gam ma tuý loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an xã Tân Quang, thành phố Sông Công phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi nêu trên của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự. Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
......
c)... Heroine,... có khởi lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam....”
Đánh giá về tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo T.Đ.T :
3.1. Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất ma tuý, gây mất trật tự an toàn xã hội.
3.2. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, bị cáo T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất của vụ án, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, bản thân bị cáo T là người sử dụng chất ma túy. Nên cần phải xét xử bị cáo bằng án phạt tù nghiêm khắc, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, để xét xử bị cáo mức án phạt tù phù hợp. Xét mức hình phạt tù mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi cũng như nhân thân của bị cáo.
Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo là phù hợp nên cần được chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo T mua ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân, nên xét không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cần áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về vật chứng của vụ án:
Số ma túy thu giữ của bị cáo T còn lại sau giám định, vỏ bì niêm phong, là những vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành cần tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo T bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên, bị cáo là người thuộc gia đình hộ nghèo. Căn cứ theo quy định tại Nghị quyết số 326/ 2016/ NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xử xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo T được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy T khai mua của người đàn ông không rõ tên, tuổi và địa chỉ cụ thể. Đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Các Điều 106, 136, 299, 329, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/ 2016/ NQ – UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo T.Đ.T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1.Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng: Điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo T.Đ.T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2025.
* Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T.Đ.T
2. Về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tiếp tục tạm giam bị cáo T.Đ.T 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo cho việc thi hành án.
3. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có mẫu hoàn trả là 0,238 gam và vỏ bao gói.
01 bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có vỏ bì ký hiệu A và vỏ túi nilon.
(Vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/3/2025 giữa Công an tỉnh Thái Nguyên và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công).
4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, người bào chữa cho bị báo, báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND TP. Sông Công; - Công an tỉnh Thái Nguyên; - Bị cáo; NBC - UBND xã Trung Hội, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên (kèm TB Kq XX); - THA h.sự, d.sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thùy Dung |