- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2025/HS-ST Ngày: 15/01/2025 |
NHÂN DÂN
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Bình Thiện
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đinh Minh Hoàng.
- Bà Bùi Diệu Huệ.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải Đăng – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thu T - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 388/2024/TLST-HS ngày 13/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HS ngày 03/01/2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Thành L; Sinh năm: 1996 tại Bến Tre; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 328/MTH, ấp M, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre; Chỗ ở hiện nay: C A, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1972 và bà Phạm Thị Kim C, sinh năm 1981; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Nhân thân: ngày 17/11/2020 bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 820/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 15 (mười lăm) tháng. Chấp hành xong ngày 25/11/2021.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 27/5/2024; (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 27/05/2024, Nguyễn Thành L điều khiển xe mô tô biển số 62N1-648.08 chở Phan Minh L2 khi đi đến trước số nhà F đường A, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Tổ công tác 363 Công an quận B tiến hành kiểm tra phát hiện bên trong ví để ở túi quần phía sau bên phải của L có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu nên đưa Nguyễn Thành L, Phan Minh L2 về trụ sở Công an phường B để làm việc. Sau đó vụ việc được chuyển lên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B để điều tra, xử lý theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B, Nguyễn Thành L đã khai nhận bản thân sử dụng ma túy từ năm 2023, nguồn gốc số ma túy L mua của người
1/5
đàn ông (không rõ lai lịch) với giá 700.000 đồng tại cầu vượt Tỉnh Lộ 10, phường T, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Theo Bản kết luận giám định số 6464/KL-KTHS, ngày 04/06/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2679 gam (Không phẩy hai sáu bảy chín gam), loại Methamphetamine
Vật chứng thu giữ:
- 01 gói niêm phong sau giám định. Bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Thành L, Nguyễn Tấn D (người chứng kiến), Dương Quốc T1 (Điều tra viên) và hình dấu Công an phường A, quận B.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh có số thuê bao 0938231.761, L không dùng điện thoại trên để liên lạc mua ma túy.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus, màu đen có số thuê bao 0935937005, L không dùng điện thoại di động trên để liên lạc mua ma túy.
- 01 xe mô tô hiệu Honda biển số 62N1-648.08, số khung RLHKC3716KY018149, số máy KC34E1036478 thu giữ của Nguyễn Minh L3. Qua xác minh xe trên do anh Đặng Minh N (địa chỉ Ấp B, xã M, huyện B, tỉnh Long An) đứng tên chủ sở hữu. Qua xác minh, N đã bỏ đi khỏi địa phương nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được. L3 khai xe trên mua của người không rõ nhân thân lai lịch với giá 8.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu.
Cơ quan điều tra đã chuyển số vật chứng trên đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân tạm giữ, chờ xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 342/CT-VKS ngày 06/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Thành L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo L đã khai nhận hành vi đã thực hiện như nội dung Cáo trạng nêu trên và xin giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo Nguyễn Thành L khai nhận: bị cáo không sử dụng điện thoại liên lạc mua ma túy; sau khi mua ma túy xong bị cáo cất giữ để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện và bắt giữ.
Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 tuyên bị cáo Nguyễn Thành L phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L hình phạt tù giam có thời hạn từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung, các biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Đại diện Viện kiểm sát không đề nghị xem xét.
- Về xử lý vật chứng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng quy định tại các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy:
2/5
- 01 gói niêm phong có chứa ma túy sau giám định. Bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Thành L, Nguyễn Tấn D (người chứng kiến), Dương Quốc T1 (Điều tra viên) và hình dấu Công an phường A, quận B là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0.2679 gam, loại Methamphetamine.
- 01 ví da màu xám.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô Honda biển số 62N1-648.08. Do xe trên không rõ nguồn gốc. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo L sung vào công quỹ Nhà nước chiếc xe trên.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thành L 01 điện thoại di động hiệu Redmi, màu xanh có số thuê bao 0938.231.761 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, màu đen có số thuê bao 0935.937.005 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo Nguyễn Thành L không tranh luận với quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát quận B và nói lời sau cùng có nội dung đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, tội danh và tính hợp pháp của các quyết định tố tụng:
Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Thành L là khách quan, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 27/5/2024 do Công an phường A, quận B lập, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 15 giờ ngày 27/05/2024, bị cáo L đã có hành vi tàng trữ 0,2679 gam ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng.
Do đó, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo L đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận B đối với bị cáo L về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân truy tố bị cáo L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục luật định và ý kiến phát biểu tại phiên tòa của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đánh giá nội dung vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về hình phạt: Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có đủ năng lực về trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo vi phạm Luật phòng chống ma túy, ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng và an toàn xã hội, đồng thời hành vi tàng trữ nhằm sử dụng trái phép chất ma túy còn là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với mức độ,
3/5
tính chất hành vi phạm tội của bị cáo nhằm trừng trị, răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân về việc áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận thức về mặt pháp luật có phần hạn chế nên xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Bị cáo có nhân thân: ngày 17/11/2020 bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 820/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 15 (mười lăm) tháng. Chấp hành xong ngày 25/11/2021. Đây là tình tiết cần xem xét khi lượng hình.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội nhưng không thu lợi bất chính, đồng thời có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 gói niêm phong có chứa ma túy sau giám định. Bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Thành L, Nguyễn Tấn D (người chứng kiến), Dương Quốc T1 (Điều tra viên) và hình dấu Công an phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- 01 ví da màu xám.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô Honda biển số 62N1-648.08. Do xe trên không rõ nguồn gốc. Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo L sung vào công quỹ Nhà nước chiếc xe trên.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thành L 01 điện thoại di động hiệu Redmi, màu xanh có số thuê bao 0938.231.761 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, màu đen có số thuê bao 0935.937.005 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nào được đề nghị xem xét trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo L, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B tiếp tục truy xét, khi nào phát hiện sẽ xem xét xử lý sau.
Đối với Phan Minh L2 là bạn cùng quê, không biết L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra Công an quận B không xử lý là có cơ sở.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thành L phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
4/5
QUYẾT ĐỊNH
1/ Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/5/2024.
2/ Căn cứ vào các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 gói niêm phong có chứa ma túy sau giám định. Bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Thành L, Nguyễn Tấn D (người chứng kiến), Dương Quốc T1 (Điều tra viên) và hình dấu Công an phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- 01 ví da màu xám.
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe mô tô Honda biển số 62N1-648.08.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thành L 01 điện thoại di động hiệu Redmi, màu xanh có số thuê bao 0938.231.761 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, màu đen có số thuê bao 0935.937.005, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ các vật chứng trên theo phiếu nhập kho số NK25/39TV ngày 31/10/2024).
3/ Kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận B tiếp tục điều tra làm rõ người đàn ông không rõ lai lịch đã bán ma túy cho bị cáo L, khi nào phát hiện, truy tìm được thì xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.
4/ Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Thành L phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5/ Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -VKSND TP.HCM; - VKSND Q.Bình Tân; - CQĐTCA Q.Bình Tân; - CQ THAHSCA Q.Bình Tân; - NTG CA Q.Bình Tân; - Phòng PC64- CATPHCM; - Sở Tư pháp; - Chi cục THADS Q.Bình Tân; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án –Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Bình Thiện 5/5 |