- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Tan Hai phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? 268, khoản 1 Điều 299, khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KV 13 - GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 14/2025/HS-ST Ngày: 16/09/2025 |
KV 13 - GIA LAI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN KV 13 - GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tứ Hải. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thám và bà Nguyễn Thị Ngọc Lan. - Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hường - Thư ký Tòa án nhân dân kv 13 – Gia Lai. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân kv 13 - Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Hùng - Kiểm sát viên. Ngày 16 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân kv 13 – Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo: Phan Tấn H, sinh ngày 02/3/1998 tại P, Bình Định; nơi thường trú: Tổ dân phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai (nay là xã K, tỉnh Gia Lai); nơi ở trước khi bị bắt: Tổ 14, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai (nay là phường A, tỉnh Gia Lai); căn cước công dân số 064098011816, cấp ngày 27/9/2021; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Tấn K và bà Trần Thị H1; bị cáo có vợ là Huỳnh Thị Mỹ V và có 01 người con sinh năm 2022; tiền án: tiền sự: Không; về nhân thân: Ngày 22/12/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số: 27/2015/HS-ST ngày 22/12/2015. Ngày 29/9/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số: 28/2016/HS-ST ngày 29/9/2016; tổng hợp với hình phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số: 27/2015/HS-ST ngày 22/12/2015; buộc bị cáo Phan Tấn H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 04 năm 06 tháng tù; bị cáo đã chấp hành xong hình phạt của hai bản án
vào ngày 30/01/2019. Ngày 30/10/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với thời gian 24 tháng theo Quyết định số: 02/2019/QĐ-TA ngày 30/10/2019, chấp hành xong ngày 09/7/2021; Ngày 29/4/2025, bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xử phạt 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”; thời hạn tù tính từ ngày 28/11/2024, theo Bản án số: 33/2024/HS-ST ngày 29/4/2025, bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam X, Bộ C1; có mặt. - Người làm chứng: 1. Huỳnh Văn L, sinh năm 1999; địa chỉ: Tổ A, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai (nay là phường A, tỉnh Gia Lai); vắng mặt. 2. Huỳnh Thị Mỹ V, sinh năm 2004; địa chỉ: Tổ A, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai (nay là phường A, tỉnh Gia Lai); có mặt. 3. Nguyễn Thị N, sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ A, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai (nay là phường A, tỉnh Gia Lai); vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 23/11/2024, Phan Tấn H đến thành phố P và thuê phòng ở tại hẻm Đ, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Khoảng 15 giờ ngày 24/11/2024, H ra quán nước vỉa hè trên đường N uống cà phê thì có một người nam giới ngồi bàn bên cạnh. H hỏi thì người này giới thiệu tên T (không nói rõ họ tên và địa chỉ). Trong khi nói chuyện H nảy sinh ý định mua ma túy sử dụng. H hỏi T chỗ bán ma túy thì T trả lời mua bao nhiêu, H nói mua 800.000đ (tám trăm nghìn đồng), T nói có, chờ tý. Nghe vậy, H nói cho em xin thêm cái nỏ (tức dụng cụ sử dụng ma túy). T điều khiển xe mô tô, màu đen (H không biết rõ biển số) đi đâu không rõ. Khoảng 15 phút sau, T quay lại đưa cho H 04 (bốn) gói ma túy đá và 01 (một) đoạn ống thủy tinh uốn cong một đầu phình to hình cầu. H cất ma túy và dụng cụ vào túi quần rồi đưa cho T số tiền 800.000đ (tám trăm nghìn đồng), T nhận tiền xong đi đâu không rõ. Ngày 25/11/2024, H về thị xã A lấy ma túy và dụng cụ cất giấu vào khay đựng nước của quạt điện trong phòng ngủ của vợ chồng H tại nhà mẹ vợ là bà Nguyễn Thị N thuộc Tổ A, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai (nay là Tổ A A, phường A, tỉnh Gia Lai). Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 27/11/2024, khi bà N và mọi người trong gia đình đi làm, H xuống bếp lấy kéo, ly thủy tinh, chai nhựa, ống hút vào phòng ngủ. H dùng kéo cắt một phần trên chai nhựa có nắp gắn vào ly thủy tinh và đục hai lỗ trên nắp nhựa, một lỗ gắn đoạn ống thủy tinh (nỏ) và một lỗ gắn đoạn ống hút nhựa thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Sau đó H lấy 01 (một) gói ma túy từ trong quạt điện ra, cho ma
túy vào nỏ, dùng bật lửa đốt nóng để sử dụng. Sau khi sử dụng xong, H cất tất cả dụng cụ cạnh chân quạt điện trong phòng, số ma túy còn lại H cất tại khay đựng nước của quạt điện trong phòng ngủ, khi có nhu cầu thì lấy sử dụng tiếp. Đến 17 giờ ngày 27/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A khám xét nơi ở của Phan Tấn H đã thu giữ: - 03 (ba) gói ni lon dán kín bên trong chứa chất màu trắng dạng tinh thể thu giữ trong khay đựng nước máy quạt hiệu Sunhouse. - 01 (một) cây kéo bằng kim loại, màu đen đã qua sử dụng thu giữ trên bàn gỗ. - 01 (một) bật lửa màu xanh thu dưới cạnh chân quạt hiệu Sunhouse. - 01 (một) bật lửa màu đỏ thu dưới cạnh chân quạt hiệu Sunhouse. - 01 (một) đoạn ống thủy tinh uốn cong, một đầu phình to dạng hình cầu, bên trong bám dính chất màu trắng thu dưới cạnh chân quạt hiệu Sunhouse. - 01 (một) lọ nhựa màu đen, nắp thủng một lỗ gắn ông hút nhựa màu đen, trên thân lọ nhựa thủng một lỗ để hở thu dưới cạnh chân quạt hiệu Sunhouse. - 01 (một) lọ, phần dưới được làm từ ly thủy tinh không màu, phần trên bằng nhựa có nắp màu đỏ thủng hai lỗ, một lỗ gắn ông hút nhựa màu đen, một lỗ để hở thu dưới cạnh chân quạt hiệu Sunhouse. Tại Kết luận giám định số: 1103/KL-KTHS ngày 19 tháng 12 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh G, kết luận: - Chất màu trắng dạng tinh thể trong 03 (ba) gói nilon, được niêm phong trong bì công văn ghi “01” (mô tả tại mục Mẫu cần giám định) đều là ma túy, loại Methaphetamine, tổng khối lượng 0,2332 gam. - Chất màu nâu, trắng bám dính trong đoạn ống thủy tinh, được niêm phong trong bì công văn ghi “02” (mô tả tại mục Mẫu cần giám định) là ma túy, loại Methaphetamine, không cân được khối lượng chất bám dính do lượng mẫu ít. Tại Bản cáo trạng số: 15/CT-VKS ngày 18/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Khê (nay là Viện kiểm sát nhân dân kv 13 - Gia Lai) đã truy tố bị cáo Phan Tấn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân kv 13 - Gia Lai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Tấn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Tấn H từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06
(sáu) tháng tù; tổng hợp hình phạt tại Bản án số: 33/2025/HS-ST, ngày 29/4/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: - 01 (một) cây kéo bằng kim loại, màu đen đã qua sử dụng. - 01 (một) bật lửa màu xanh và 01 (một) bật lửa màu đỏ. - 0,1930 gam chất màu trắng dạng tinh thể (đều loại Methamphetamine) trong 03 (ba) gói nilon thuộc bì “CÔNG AN TỈNH GIA LAI CÔNG AN THỊ XÃ AN KHÊ”, ghi “01”, cùng vỏ bao gói. Tất cả được niêm phong trong bì C2 Công an tỉnh G, có đặc điểm: Mặt trước ghi “01” và có dòng chữ “Số 1103/PC09 ngày 19 tháng 12 năm 2024”, tại mép dán mặt sau bì công văn có đóng dấu tròn của Phòng K1, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký, chữ viết của các ông: Phan Xuân H2, Bùi Sĩ T1 và Hoàng Ngọc B. - 01 (một) đoạn ống thủy tinh, uốn cong, một đầu phình to, bên trong còn bám dính ít chất màu trắng, nâu, thuộc bì “CÔNG AN TỈNH GIA LAI CÔNG AN THỊ XÃ AN KHÊ”, ghi “02”, cùng vỏ bao gói. Tất cả được niêm phong trong bì C2 Công an tỉnh G, có đặc điểm: Mặt trước ghi “02” và có dòng chữ “Số 1103/PC09 ngày 19 tháng 12 năm 2024”, tại mép dán mặt sau bì công văn có đóng dấu tròn của Phòng K1, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký, chữ viết của các ông: Phan Xuân H2, Bùi Sĩ T1 và Hoàng Ngọc B. - 01 (một) lọ nhựa màu đen, nắp thủng một lỗ gắn ông hút nhựa màu đen, trên thân lọ nhựa thủng một lỗ để hở; 01 (một) lọ, phần dưới được làm từ ly thủy tinh không màu, phần trên bằng nhựa có nắp màu đỏ thủng hai lỗ, một lỗ gắn ông hút nhựa màu đen, một lỗ để hở, được bỏ trong bì công văn. Tại mép dán có chữ viết, chữ ký của Phạm Văn C, Phạm Thanh P, Nguyễn Tiến H3, Võ Thành T2, Huỳnh Thị Mỹ V, Nguyễn Thị N, Phan Tấn H và hình dấu giáp lai của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã A (ký hiệu 3). Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa bị cáo Phan Tấn H thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp. [2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được có tại hồ sơ vụ án, do đó đã có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 15 giờ ngày 24/11/2024 tại quán nước vỉa hè trên đường N, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai, Phan Tấn H đã mua 04 (bốn) gói ma túy loại Methamphetamine và dụng cụ sử dụng ma túy của một người tên T (không xác định được nhân thân, lai lịch) với số tiền 800.000đ (tám trăm nghìn đồng). Sau đó H cầm về nhà tại Tổ A, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai (nay là phường A, tỉnh Gia Lai) cất giấu trong khay đựng nước của quạt điện đến khoảng 07 giờ 30 ngày 27/11/2024, H lấy 01 (một) gói ma túy ra sử dụng, số ma túy còn lại 03 (ba) gói H tiếp tục cất giấu trong khay đựng nước của quạt điện. Khoảng 17 giờ cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A khám xét nơi ở của Phan Tấn H thu giữ 03 (ba) gói ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,2332 gam và các dụng cụ liên quan đến việc sử dụng ma túy. Vì vậy đã đủ cơ sở tuyên bố bị cáo Phan Tấn H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. [3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. [4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phan Tấn H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. [5] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án và đã bị xử lý vi phạm hành chính. Đây là đặc điểm về nhân thân cần xem xét, đánh giá khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. [6] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đặc điểm về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Phan Tấn H không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo. [8] Về xử lý vật chứng: Xét thấy các vật chứng của vụ án gồm: - 01 (một) cây kéo bằng kim loại, màu đen đã qua sử dụng. - 01 (một) bật lửa màu xanh và 01 (một) bật lửa màu đỏ. - 0,1930 gam chất màu trắng dạng tinh thể (đều loại Methamphetamine) trong 03 (ba) gói nilon thuộc bì “CÔNG AN TỈNH GIA LAI CÔNG AN THỊ XÃ AN KHÊ”, ghi “01”, cùng vỏ bao gói. Tất cả được niêm phong trong bì C2 Công an tỉnh G, có đặc điểm: Mặt trước ghi “01” và có dòng chữ “Số 1103/PC09 ngày 19 tháng 12 năm 2024”, tại mép dán mặt sau bì công văn có đóng dấu tròn của Phòng K1, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký, chữ viết của các ông: Phan Xuân H2, Bùi Sĩ T1 và Hoàng Ngọc B. - 01 (một) đoạn ống thủy tinh, uốn cong, một đầu phình to, bên trong còn bám dính ít chất màu trắng, nâu, thuộc bì “CÔNG AN TỈNH GIA LAI CÔNG AN THỊ XÃ AN KHÊ”, ghi “02”, cùng vỏ bao gói. Tất cả được niêm phong trong bì C2 Công an tỉnh G, có đặc điểm: Mặt trước ghi “02” và có dòng chữ “Số 1103/PC09 ngày 19 tháng 12 năm 2024”, tại mép dán mặt sau bì công văn có đóng dấu tròn của Phòng K1, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký, chữ viết của các ông: Phan Xuân H2, Bùi Sĩ T1 và Hoàng Ngọc B. - 01 (một) lọ nhựa màu đen, nắp thủng một lỗ gắn ông hút nhựa màu đen, trên thân lọ nhựa thủng một lỗ để hở; 01 (một) lọ, phần dưới được làm từ ly thủy tinh không màu, phần trên bằng nhựa có nắp màu đỏ thủng hai lỗ, một lỗ gắn ông hút nhựa màu đen, một lỗ để hở, được bỏ trong bì công văn. Tại mép dán có chữ viết, chữ ký của Phạm Văn C, Phạm Thanh P, Nguyễn Tiến H3, Võ Thành T2, Huỳnh Thị Mỹ V, Nguyễn Thị N, Phan Tấn H và hình dấu giáp lai của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã A (ký hiệu 3). Là các vật chứng không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy. [9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 260, khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 299, khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Tấn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Tấn H 02 (hai) năm tù. Tổng hợp hình phạt 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” tại Bản án số: 33/2025/HS-ST, ngày 29 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai; buộc bị cáo Phan Tấn H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ngày 28 tháng 11 năm 2024. 3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: - 01 (một) cây kéo bằng kim loại, màu đen đã qua sử dụng. - 01 (một) bật lửa màu xanh và 01 (một) bật lửa màu đỏ. - 0,1930 gam chất màu trắng dạng tinh thể (đều loại Methamphetamine) trong 03 (ba) gói nilon thuộc bì “CÔNG AN TỈNH GIA LAI CÔNG AN THỊ XÃ AN KHÊ”, ghi “01”, cùng vỏ bao gói. Tất cả được niêm phong trong bì C2 Công an tỉnh G, có đặc điểm: Mặt trước ghi “01” và có dòng chữ “Số 1103/PC09 ngày 19 tháng 12 năm 2024”, tại mép dán mặt sau bì công văn có đóng dấu tròn của Phòng K1, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký, chữ viết của các ông: Phan Xuân H2, Bùi Sĩ T1 và Hoàng Ngọc B. - 01 (một) đoạn ống thủy tinh, uốn cong, một đầu phình to, bên trong còn bám dính ít chất màu trắng, nâu, thuộc bì “CÔNG AN TỈNH GIA LAI CÔNG AN THỊ XÃ AN KHÊ”, ghi “02”, cùng vỏ bao gói. Tất cả được niêm phong trong bì C2 Công an tỉnh G, có đặc điểm: Mặt trước ghi “02” và có dòng chữ “Số 1103/PC09 ngày 19 tháng 12 năm 2024”, tại mép dán mặt sau bì công văn có đóng dấu tròn của Phòng K1, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký, chữ viết của các ông: Phan Xuân H2, Bùi Sĩ T1 và Hoàng Ngọc B. - 01 (một) lọ nhựa màu đen, nắp thủng một lỗ gắn ông hút nhựa màu đen, trên thân lọ nhựa thủng một lỗ để hở; 01 (một) lọ, phần dưới được làm từ ly thủy tinh không màu, phần trên bằng nhựa có nắp màu đỏ thủng hai lỗ, một lỗ gắn ông hút nhựa màu đen, một lỗ để hở, được bỏ trong bì công văn. Tại mép
dán có chữ viết, chữ ký của Phạm Văn C, Phạm Thanh P, Nguyễn Tiến H3, Võ Thành T2, Huỳnh Thị Mỹ V, Nguyễn Thị N, Phan Tấn H và hình dấu giáp lai của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã A (ký hiệu 3). (Đặc điểm, tình trạng vật chứng cụ thể như biên bản giao nhận vật chứng ngày 20 tháng 5 năm 2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh G với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Khê). 4. Về án phí: Buộc bị cáo Phan Tấn H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 16 tháng 9 năm 2025), bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND kv 13; - Công an tỉnh Gia Lai; - Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Tứ Hải |