- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thi S phạm tội - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả (điều 192 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thi S phạm tội “Buôn bán hàng giả”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - PHÚ THỌ ---------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2025/HS-ST Ngày 26/8/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - TỈNH PHÚ THỌ
- Với hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đình Đậu và ông Đào Văn Kiểm
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Minh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thùy - Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 8 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 14/2025/HS-ST ngày 06/8/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HS ngày 14/8/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thi S, sinh năm 1988; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: Vĩnh Phúc; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: xã Lương Điền, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã Vĩnh Tường, tỉnh Phú Thọ); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Lê Văn Xuất, sinh năm 1964; Mẹ đẻ: Ngô Thị Ổn, sinh năm 1965; Vợ: Trần Thị Thư, sinh năm 1993, hiện đều ở: xã Lương Điền, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã Vĩnh Tường, tỉnh Phú Thọ); Con: Có 04 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2019; Anh, chị, em ruột: Gia đình có 03 anh, em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/4/2025 đến ngày 13/4/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Lương Điền, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã Vĩnh Tường, tỉnh Phú Thọ); Có mặt.
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Hoàng Thị Huệ Chinh, sinh năm 1999, địa chỉ: Đường Trần Nguyên Hãn, phường Thanh Miếu, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 20/3/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Phú Thọ tiếp nhận và giải quyết tin báo của chị Hoàng Thị Huệ Chinh, sinh năm 1999, trú tại: đường Trần Nguyên Hãn, phường Thanh Miếu, tỉnh Phú Thọ. Nội dung: tố cáo hành vi quảng cáo trên mạng xã hội lừa đảo chiếm đoạt số tiền 1.300.000 đồng của chị Chinh vào ngày 13/3/2025 qua hình thức bán hàng giả. Quá trình điều tra xác định:
Lê Thi S mở cửa hàng kinh doanh phụ kiện điện thoại tại nhà từ năm 2020 đến nay (giấy phép đăng ký kinh doanh mang tên Trần Thị Thư, sinh năm 1993, trú tại: xã Vĩnh Tường, tỉnh Phú Thọ, là vợ của Sĩ). Sĩ thuê Lê Anh Dũng, sinh năm 2001, trú tại: thôn Chùa, xã Vĩnh Tường, tỉnh Phú Thọ và Nguyễn Hoài Linh, sinh năm 2002, trú tại: thôn Yên Thịnh, xã Vĩnh Tường, tỉnh Phú Thọ làm nhân viên của cửa hàng. Sĩ giao cho Dũng tư vấn cho khách về giá tiền, chất lượng sản phẩm... theo nội dung mà Sĩ hướng dẫn. Sau khi khách chốt đơn mua hàng, Dũng thông tin cho Sĩ và Sĩ giao cho Linh lên đơn và gửi cho khách. Khi khách nhận hàng sẽ thanh toán qua hình thức chuyển khoản và Linh sẽ nhận được tiền từ bên giao hàng. Nhận tiền xong, Linh chuyển từ tài khoản của Linh số 108871751807 (ngân hàng Viettinbank) đến tài khoản số 8837152777 (ngân hàng BIDV) của chị Trần Thị Thư. Việc nhập hàng đều do Sĩ thực hiện, Dũng và Linh không biết về chất lượng hàng hoá mà Sĩ giao bán. Trong quá trình kinh doanh, do hám lợi nên khoảng đầu tháng 3/2025, Sĩ đã mua 20 bộ sản phẩm tai nghe Airpods Pro 2 màu trắng, kém chất lượng của hãng Apple với giá 110.000 đồng/1 bộ sản phẩm của một người không quen biết tại cửa khẩu Tân Thanh, tỉnh Lạng Sơn về để giao bán kiếm lời.
Ngày 18/03/2025 thông qua mạng xã hội Sĩ đã bán cho chị Hoàng Thị Huệ Chinh 10 bộ sản phẩm tai nghe Airpods Pro kém chất lượng đã mua trước đó với số tiền 1.300.000 đồng, còn lại 10 bộ sản phẩm tai nghe Airpods pro 2 Sĩ chưa bán được cho ai nên bày bán tại tủ kính trong cửa hàng.
Sau khi mua và sử dụng sản phẩm tai nghe mua của Sĩ, chị Chinh thấy sản phẩm không giống quảng cáo và kém chất lượng nên đã đến Cơ quan điều tra Công an tỉnh Phú Thọ trình báo và giao nộp 10 bộ sản phẩm tai nghe Airpods Pro 2 đã mua của Sĩ.
Ngày 21/03/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Phú Thọ đã có văn bản gửi Công ty TNHH HOAMI đại diện ủy quyền hợp pháp của công ty Apple Inc. Hoa Kỳ (chủ sở hữu của nhãn hiệu Apple) kèm theo hình ảnh 10 bộ tai nghe Airpods Pro do chị Chinh giao nộp đề nghị cung cấp thông tin liên quan. Ngày 21/03/2025 Công ty TNHH HOAMI có Công văn phúc đáp số 81/HM-XNHG25 xác định 10 bộ sản phẩm nêu trên là hàng giả mạo nhãn hiệu Apple.
Ngày 24/03/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Phú Thọ đã có quyết định số 1284 tiến hành Trưng cầu giám định tại Viện Khoa học hình sự Bộ Công an tiến hành giám định 10 bộ sản phẩm tai nghe Airpods Pro 2 do chị Hoàng Thị Huệ Chinh giao nộp ký hiệu từ A1 đến A10. Kết quả: Tại bản Kết luận giám định số 2560 ngày 08/04/2025 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: “Các đối tượng gửi giám định ký hiệu A1 đến A10 không phải sản phẩm do hãng Apple sản xuất”
Ngày 31/03/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Phú Thọ đã có yêu cầu định giá tài sản số 1950 đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tiến hành định giá 01 bộ tai nghe nhãn hiệu Airpods Pro 2 chân sạc lingtning chính hãng Apple chưa qua sử dụng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 216 ngày 01/04/2025 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố Việt Trì kết luận 01 bộ tai nghe nhãn hiệu Airpods Pro 2 chân sạc lingtning chính hãng Apple chưa qua sử dụng có giá 4.990.000 đồng.
Như vậy tổng giá trị 10 bộ sản phẩm Airpod Pro Gen 2 giả mà Sĩ bán cho chị Hoàng Thị Huệ Chinh vào ngày 13/03/2025 tương đương với số lượng hàng thật trị giá 49.990.000 đồng.
Căn cứ tài liệu đã thu thập được, ngày 10/04/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Phú Thọ đã tiến hành khám xét khẩn cấp cửa hàng kinh doanh của Lê Thi S tại địa chỉ Thôn Đông Đình, xã Lương Điền, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc (nay là xã Vĩnh Tường, tỉnh Phú thọ. Quá trình khám xét thu giữ 10 bộ tai nghe Airpods pro 2 vỏ hộp màu trắng được bọc nilon.
Ngày 07/05/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Phú Thọ đã có quyết định số 3384 tiến hành Trưng cầu giám định tại Viện Khoa học hình sự Bộ Công an tiến hành giám định 10 bộ sản phẩm tai nghe Airpods pro thu giữ trong quá trình khám xét cửa hàng của Lê Thi S (ký hiệu từ A1 đến A10).
Tại bản Kết luận giám định số 3723 ngày 24/06/2025 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận “Các đối tượng gửi giám định ký hiệu A1, A2, A3, A4, A5, A6, A7, A8, A9, A10 không phải là sản phẩm do hãng Apple sản xuất”
Quá trình điều tra xác định: ngoài bán tai nghe Airpods Pro 2 cho chị Hoàng Thị Huệ Chinh ra, Lê Thi S không còn bán cho ai khác. Sĩ đã trả lại số tiền 1.300.000 đồng là tiền Sĩ bán tai nghe giả cho chị Chinh.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Thi S đã thành khẩn khai báo, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu cơ quan điều tra thu thập được.
Tại bản Cáo trạng số: 06/CT-VKPT - P2 ngày 05/8/2025 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Phú Thọ để xét xử đối với bị cáo Lê Thi S về tội“Buôn bán hàng giả", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 192 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 192; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Thi S từ 250.000.000đồng đến 300.000.000đồng.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Sĩ.
*Về trách nhiệm bồi thường dân sự:
Bị cáo Sĩ đã trả lại cho chị Hoàng Thị Huệ Chinh số tiền 1.300.000đồng ( Một triệu ba trăm nghìn đồng). Chị Chinh không có yêu cầu đề nghị gì khác nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
*Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu đen đã qua sử dụng, có số IMEI: 350069708490850 của bị cáo Lê Thi S.
- Tịch thu tiêu hủy 02 sim số 0807111111 và 0977211600 của bị cáo Lê Thi S.
- Tịch thu tiêu hủy 10 bộ tai nghe Airpods pro 2 vỏ hộp màu trắng được bọc nilon và 10 bộ tai nghe Airpods Pro 2 đều có kích thước vỏ hộp dài, rộng, cao lần lượt là 10cmx10cmx4,5cm, vỏ hộp màu trắng được bọc nilon của bị cáo Lê Thi S được niêm phong trong hai hộp giấy.
*Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo lấy đó làm bài học cho bản thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
ơ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng theo quy định của pháp luật.
. Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:
Tại phiên toà hôm nay bị cáo Lê Thi S ®· khai nhËn toàn bộ hµnh vi ph¹m téi cña m×nh như néi dung bản c¸o tr¹ng ®· nªu, thõa nhËn néi dung c¸o tr¹ng truy tè lµ ®óng người, đúng tội kh«ng cã g× oan sai. Lêi khai nhËn cña bÞ c¸o được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với đơn trình báo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản tạm giữ, biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng tháng 3 năm 2025, Lê Thi S đã mua 20 bộ tai nghe nhãn hiệu Airpod Pro Gen 2 giả với giá 110.000 đồng/01 bộ của người không quen biết tại cửa khẩu Tân Thanh, tỉnh Lạng Sơn mục đích để bán. Ngày 18/3/2025, Sĩ đã bán cho chị Hoàng Thị Huệ Chinh 10 bộ tai nghe Airpod Pro Gen 2 với giá 1.300.000 đồng, thu lợi bất chính 200.000 đồng, còn lại 10 bộ tai nghe Airpod Pro Gen 2 Sĩ để tại cửa hàng đã bị thu giữ. Giá trị hàng thật của 01 bộ tai nghe Airpod Pro Gen 2 là 4.990.000 đồng. Do vậy Sĩ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi Buôn bán hàng giả tương đương với số lượng hàng thật đối với 20 bộ tai nghe là 99.800.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Lê Thi S về tội “ Buôn bán hàng giả” theo quy định điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng pháp luật.
. Nhận định về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sản xuất hàng thật và của người tiêu dùng, đồng thời gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Do đó cần phải xử phạt một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ tính cải tạo, giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Quá trình điều tra xác định bị cáo đã khắc phục trả lại số tiền 1.300.000đồng (Một triệu ba trăm nghìn đồng) cho chị Hoàng Thị Huệ Chinh. Ngoài ra trong quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo có nhiều đóng góp cho an sinh xã hội, từ thiện, hỗ trợ người nghèo được UBND xã Lương Điền, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc ( nay là xã Vĩnh Tường, tỉnh Phú Thọ) xác nhận và bị cáo có ông bà nội là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Sau khi xem xét nhân thân, đối chiếu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Sĩ có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, chấp hành đúng chính sách pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú nên cần xử phạt bị cáo hình phạt tiền là phù hợp, như vậy vừa có tác dụng răn đe giáo dục, vừa thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
. Về hình phạt bổ sung:
Do bị cáo đã bị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm bồi thường dân sự:
Bị cáo Lê Thi S đã lại cho chị Hoàng Thị Huệ Chinh số tiền 1.300.000đồng (Một triệu ba trăm nghìn đồng). Chị Chinh không có yêu cầu đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đại diện ủy quyền hợp pháp của Công ty Apple.Inc (chủ sở hữu của nhãn hiệu Apple) tại Việt Nam là Công ty TNHH HOAMI không có yêu cầu đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu đen đã qua sử dụng, có số IMEI: 350069708490850, gắn thẻ sim số 0807111111 và 0977211600 tạm giữ của bị cáo trong quá trình điều tra, xác định là công cụ phạm tội cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- Đối với 02 sim gắn thẻ sim số 0807111111 và 0977211600 không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 10 bộ tai nghe Airpods pro 2 vỏ hộp màu trắng được bọc nilon thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp nơi làm việc của Sĩ và 10 bộ tai nghe Airpods Pro 2 đều có kích thước vỏ hộp dài, rộng, cao lần lượt là 10cmx10cmx4,5cm, vỏ hộp màu trắng được bọc nilon do chị Hoàng Thị Huệ Chinh giao nộp không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với Lê Anh Dũng và Nguyễn Hoài Linh, là nhân viên làm thuê hưởng lương theo tháng tại của hàng của Sĩ, Dũng và Linh bán hàng theo chỉ đạo của Sĩ và không biết đây là hàng giả nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý, xét thấy là phù hợp.
- Đối với Trần Thị Thư, chị Thư chỉ là người đứng tên đăng ký kinh doanh, việc nhập hàng và bán hàng đều do Sĩ thực hiện, chị Thư không biết và không được hưởng lợi gì nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý, xét thấy là phù hợp.
- Đối với người bán tai nghe cho Sĩ, tuy nhiên Sĩ không biết tên tuổi và địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra làm rõ để xử lý, xét thấy là phù hợp.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm a Khoản 1 Điều 192 điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35; Điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Lê Thi S phạm tội “Buôn bán hàng giả”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Thi S số tiền 250.000.000đồng ( Hai trăm năm mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Thi S.
2. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Không đặt ra giải quyết.
* Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu đen đã qua sử dụng, có số IMEI: 350069708490850 của bị cáo Lê Thi S.
- Tịch thu tiêu hủy 02 sim số 0807111111 và 0977211600 của bị cáo Lê Thi S.
- Tịch thu tiêu hủy 10 bộ tai nghe Airpods pro 2 vỏ hộp màu trắng được bọc nilon và 10 bộ tai nghe Airpods Pro 2 đều có kích thước vỏ hộp dài, rộng, cao lần lượt là 10cmx10cmx4,5cm, vỏ hộp màu trắng được bọc nilon của bị cáo Lê Thi S được niêm phong trong hai hộp giấy.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/8/2025 giữa Công an tỉnh
Phú Thọ và Phòng thi hành án dân sự khu vực 1, tỉnh Phú Thọ).
3.Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại UBND xã nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Thọ; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND KV 1, tỉnh Phú Thọ; - CA tỉnh Phú Thọ; - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ; - THADS tỉnh Phú Thọ; - UBND xã Vĩnh Tường, tỉnh Phú Thọ - Bị cáo; - Người có QL&NVLQ; - Lưu HSVA. ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại UBND xã nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm. Thµnh viªn Héi ®ång xÐt xö ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ cho tÊt c¶ c¸c thµnh viªn Héi ®ång xÐt xö cïng nghe vµ ký tªn. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Cẩm Vân 4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 Nguyễn Cẩm Vân Biªn b¶n nghÞ ¸n kết thúc vào hồi ….. giờ …. phút cùng ngày ®· ®ưîc ®äc l¹i Nguyễn Cẩm Vân |