vanban.org

Bản án 14/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình Tuyên án 18/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 02(Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/10/2024. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn D. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng Th - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HƯNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HS-ST
Ngày: 21-02- 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Nguyễn Thế Đức

2.Bà Nguyễn Thị Vĩnh

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Huyền– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng.

Đại diện VKSND huyện Đông Hưng tham gia phiên toà: Ông Trần Mạnh Thắng - Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công vụ án hình sự thụ lý số: 08/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn D, sinh ngày 12/7/1975.

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã P, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

Nghề nghiệp: Lao động tự do;Trình độ văn hoá: 07/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn X, sinh năm 1943 và bà: Nguyễn Thị T (Đã chết). có vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1976.Trú tại: Thôn D , xã P, huyện Đông Hưng,tỉnh Thái Bình; Có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2009.

Gia đình có 02 anh em, bị can là con thứ hai trong gia đình.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Bản án số 31/2023/HSST ngày 28/4/2023 của Tòa án nhân dân huyệnĐông Hưng, tỉnh Thái Bình xử phạt Nguyễn Văn D 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2022.Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2024.Chấp hành xong án phí ngày 15/6/2023.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/10/2024 đến ngày 20/10/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Những người chứng kiến: Ông Nguyễn Đình R, sinh năm 1967 và ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1972

Cùng nơi cư trú: Thôn D, xã P, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình

( Đều vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 14/10/2024 Nguyễn Văn D đi bộ từ nhà ra trục đường xã Phú Lương, huyện Đông Hưng đi nhờ xe của một người không quen biết lên khu vực xã Ng, huyện Đông Hưng để tìm mua ma túy loại Heroine về để sử dụng cho bản thân. Khi đi đến khu vực bãi rác ở cánh đồng thuộc xã Ng, D xuống xe một mình đi bộ gặp một người đàn ông khoảng 50 tuổi, không quen biết mua 200.000 đồng được 01 gói ma túy được gói bằng giấy tráng kim màu xanh, D cất gói ma túy vào trong túi quần bên phải phía trước đang mặc, sau đó đi bộ để đi nhờ xe về nhà. Đến khoảng 17 giờ 15 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực trục đường thôn Đ, xã P, huyện Đông Hưng, D xuống xe đi bộ về nhà thì bị Cơ quan điều tra, Công an huyện Đông Hưng và Công an xã P phát hiện, yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của ông Nguyễn Đình R, sinh năm 1967 và ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1972 đều trú tại thôn D, xã P, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, D tự nguyện giao nộp từ túi quần phía trước bên phải đang mặc giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 gói nhỏ được gói bằng giấy tráng kim màu xanh, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục, D khai là ma túy, loại Heroine mua về để sử dụng cho bản thân. Cơ quan điều tra đã niêm phong gói ma túy và dẫn giải D về trụ sở Ủy ban nhân dân xã Phú Lương, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, quản lý, niêm phong vật chứng theo quy định.

Ngày 20/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Hưng khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn D tại thôn Dên Trang Đông, xã Phú Lương, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình: không thu giữ đồ vật, tài liệu gì (Bút lục số 32)

Tại bản kết luận giám định số 1563/KL- KTHS ngày 18/10/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: “Mẫu vật gửi giám định là ma tuý, loại Heroine, có khối lượng 0,1568 gam (Không phẩy một nghìn năm trăm sáu tám gam).

Với các tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 18/10/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Hưng đã ra quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn D về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự

Bản Cáo trạng số 12/CT - VKSĐH ngày 23/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố Nguyễn Văn D về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Văn D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như tại bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Nguyễn Văn D về tội về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, bố đẻ bị cáo trong kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên bị áp dụng tình tiết “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về áp dụng điều luật và hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, đề nghị mức án từ 01( một) năm 09( chín) tháng đến 02( hai) năm tù thời hạn tù từ 14/10/2024, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra còn đề nghị HĐXX giải quyết về xử lý vật chứng và án phí.

Bị cáo D nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ 1 phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội, bị cáo hứa sẽ cải tạo tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa , Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi quyết định tố tụng:

Các tài liệu chứng cứ do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra vụ án đã tuân thủ các quy định của pháp luật. Đó là các tài liệu hợp pháp chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Căn cứ vào các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Hưng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ xác định có tội, căn cứ xác định vô tội:

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận: Do nghiện ma túy nên khoảng 16 giờ 30 ngày 14/10/2024 D từ nhà đi đến khu vực bãi rác xã Ng, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, D đã dùng 200.000 đồng để mua Heroine về sử dụng. Trên đường đi về đến trục đường thôn Dên Trang Đông xã Phú Lương thì bị lực lượng Công an bắt quả tang và lập biên bản về hành vi “Tàng trữ trái phép ma túy”.

Xét lời khai của bị cáo Nguyễn Văn D phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang do Công an Đông Hưng lập hồi 18 giờ 15 ngày 14/10/2024 tại UBND xã Phú Lương cũng như lời khai của những người chứng kiến của ông Nguyễn Đình Rính, sinh năm 1967 và ông Nguyễn Văn Đăng, sinh năm 1972 đều trú tại thôn Dên Trang Đông, xã Phú Lương, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình và bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn D đã đủ cấu thành về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

…

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”

Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất gây nghiện, gây mất trật tự an ninh, an toàn xã hội. Bản thân bị cáo biết tác hại của ma túy biết việc sử dụng là bất hợp pháp nhưng vẫn tàng trữ để sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng đối với bị cáo, mới đủ giáo dục và cải tạo bị cáo.

Khi xem xét, cân nhắc hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã 01 lần bị kết án về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đã chấp hành xong hình phạt tù chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, bố đẻ của bị cáo trong kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Nguyễn Văn D mua ma tuý về sử dụng, là lao động tự do không có thu nhập ổn định. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Trong vụ án này: Bị cáo khai mua ma túy của người đàn ông khoảng 50 tuổi, không biết tên, địa chỉ cụ thể ở khu vực bãi rác xã Ng, huyện Đông Hưng nên Cơ quan điều tra không xác định được nên không có căn cứ để điều tra, xử lý. Đối với 200.000 đồng dùng để mua ma túy là do bị cáo lao động mà có.

Về xử lý vật chứng: Số ma túy Heroine còn lại sau giám định thu giữ của bị cáo là chất nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng điều luật và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 02(Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/10/2024.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn D.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số Hêrôin (Heroine) có khối lượng 0,0985 gam còn lại sau giám định, được đựng trong phong bì số 1563/KL- KTHS.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội, quy định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí.

Bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/02/2025

- Nơi nhận;

Cỡ chữ