vanban.org

Bản án 14/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Tuấn A được ly hôn chị Hà Thị Q.

Về con chung: Giao con chung Lê Đức Nh, sinh ngày 05/9/2022 cho chị Hà Thị Q trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tuấn Anh + Quỳnh"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Tuấn A được ly hôn chị Hà Thị Q.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình xử; Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN AN DƯƠNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST
Ngày 03-3-2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Văn Thao

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Dung

2. Bà Bùi Thị Nhàn

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Hường- Thư ký Toà án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Thơ - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 170/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Lê Tuấn A; địa chỉ: Số 255/240 T, phường Tr, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

2. Bị đơn: Chị Hà Thị Q; địa chỉ: Tổ dân phố B, phường Đ, quận An Dương, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và quá trình tố tụng nguyên đơn là anh Lê Tuấn A trình bày:

Anh và chị Hà Thị Q tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2021 tại thôn B, xã Đ, huyện An Dương (nay là tổ dân phố B, phường Đ, quận An Dương), thành phố Hải Phòng và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Tr, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng vào ngày 12/12/2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng vẫn sinh sống tại thôn B, xã Đ (nay là tổ dân phố B, phường Đ). Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống vợ chồng không có hạnh phúc. Bản thân anh đã tìm cách khắc phục nhưng hai bên không cải thiện được mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn đã được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Nay anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Hà Thị Q.

Về con chung: Anh và chị Hà Thị Q có 01 con chung tên là Lê Đức Nh, sinh ngày 05/9/2022. Trường hợp ly hôn anh đề nghị Tòa án giao con chung Lê Đức Nh cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Hà Thị Q vắng mặt tại phiên tòa, quá trình tố tụng chị Q trình bày:

Chị Q và anh Lê Tuấn A chung sống với nhau từ năm 2019 tại thôn B, xã Đ, huyện An Dương (nay là tổ dân phố B, phường Đ, quận An Dương), thành phố Hải Phòng và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Tr, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng vào ngày 12/12/2022. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Anh TA đã bỏ về nhà mẹ đẻ tại 255/240 T, phường Tr, Quận Lê Chân và vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị và anh TA là không thể khắc phục được. Nay anh Lê Tuấn A xin ly hôn, quan điểm của chị là đồng ý ly hôn với anh Lê Tuấn A.

Về con chung: Chị và anh Lê Tuấn A có 01 con chung tên là Lê Đức Nh, sinh ngày 05/9/2022. Ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao con chung Lê Đức Nh cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vi phạm quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các điều 28, 147, 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 51, 56, 59, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 39 Bộ luật Dân sự: Xử cho anh Lê Tuấn A được ly hôn chị Hà Thị Q. Về con chung: Giao con chung Lê Đức Nh, sinh ngày 05/9/2022 cho chị Hà Thị Q nuôi dưỡng sau ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn: Hai bên không yêu cầu, không giải quyết. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết. Về án phí: Anh Lê Tuấn A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Anh Lê Tuấn A khởi kiện xin ly hôn chị Hà Thị Q có địa chỉ: Tổ dân phố B, phường Đồng Thai, quận An Dương, thành phố Hải Phòng. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa anh Lê Tuấn A và chị Hà Thị Q vắng mặt, có đơn và có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Lê Tuấn A và chị Hà Thị Q.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của đương sự, căn cứ vào chứng cứ do đương sự cung cấp và các chứng cứ do Toà án thu thập đã có đủ cơ sở xác định lời khai của anh TA và chị Q về thời gian kết hôn, quá trình chung sống giữa hai bên là đúng. Mâu thuẫn vợ chồng được thể hiện ở việc trong quá trình chung sống hai bên thường xuyên mâu thuẫn, sống ly thân từ năm 2023 đến nay, không còn quan tâm và có trách nhiệm đến nhau. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Quá trình giải quyết vụ án, anh TA, chị Q đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc. Xét thấy tình trạng mâu thuẫn giữa anh Lê Tuấn A và chị Hà Thị Q đã kéo dài và trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho anh Lê Tuấn A được ly hôn chị Hà Thị Q.

Về con chung: Anh Lê Tuấn A và chị Hà Thị Q có 01 con chung Lê Đức Nh, sinh ngày 05/9/2022. Xét thấy, việc nuôi dưỡng con chung là quyền đồng thời là nghĩa vụ của cha mẹ. Quá trình giải quyết vụ án, anh TA chị Q có quan điểm thống nhất để chị Q trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Đức Nh sau ly hôn. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp, Tòa án thu thập. Xét quan điểm của anh TA và chị Q là tự nguyện, giao con chung Lê Đức Nh cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn là có cơ sở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn: Anh Lê Tuấn A và chị Hà Thị Q không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không giải quyết. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Anh Lê Tuấn A và chị Hà Thị Q, không yêu cầu. Do vậy, Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về án phí: Anh Lê Tuấn A phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo của các đương sự: Anh Lê Tuấn A và chị Hà Thị Q có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, các điều 70, 143, 147, khoản 1 Điều 227; Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Dân sự; các điều 51, 56, 58, 59, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào Điều 6, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Tuấn A được ly hôn chị Hà Thị Q.

2. Về con chung: Giao con chung Lê Đức Nh, sinh ngày 05/9/2022 cho chị Hà Thị Q trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn: Anh Lê Tuấn A và chị Hà Thị Q không yêu cầu, Hội đồng xét xử không giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

4. Về tài sản chung: Anh Lê Tuấn A và chị Hà Thị Q không yêu cầu, Hội đồng xét xử không giải quyết.

5. Về án phí: Anh Lê Tuấn A phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí ly hôn anh TA đã nộp (biên lai thu tiền số 0008624 ngày 05/12/2024) tại Chi cục Thi hành án dân sự quận An Dương, thành phố Hải Phòng. Anh Lê Tuấn A đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Trong trường hợp bản án được thi hành án tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Anh Lê Tuấn A và chị Hà Thị Q được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Dung Bùi Thị Nhàn

Phạm Văn Thao

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Thi

Đỗ Văn Thư

Nguyễn Thị Thu Hương Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TP. Hải Phòng;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- VKSND quận An Dương;

- Chi cục Thi hành án dân sự An Dương;

- UBND xã Đại Bản ( ĐKKH số 78/2008, ngày 10/6/2008);

- Đương sự;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thị Thu Hương

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hương Nguyễn Thị Lợi

Đỗ Văn Thư

Cỡ chữ