vanban.org

Bản án 14/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị C đối với anh Trần Văn K về việc: “Ly hôn”.

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị C ly hôn anh Trần Văn K. [2]. Về con chung: không có nên không giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa Trần Thị C với Trần Văn K"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị C đối với anh Trần Văn K về việc: “Ly hôn”.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 18/3/2025
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH QUẢNG NAM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Anh Liêm.

- Các Hội thẩm nhân dân:

+ Bà Phan Thị Hoài Thu;

+ Bà Lê Thị Chính.

- Thư ký phiên tòa: ông Hoàng Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 76/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2025 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 01/TB-TA ngày 19 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Trần Thị C, sinh năm 1980; địa chỉ: thôn M, xã P, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: anh Trần Văn K, sinh năm 1976; địa chỉ: thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 29/9/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị C trình bày:

Chị Trần Thị C và anh Trần Văn K tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã Bình Sơn, huyện H, tỉnh Quảng Nam cấp giấy chứng nhận kết hôn số 04 ngày 16/01/2015. Sau khi kết hôn được khoảng thời gian thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do các bên không còn tôn trọng, yêu thương nhau nữa. Từ đó, chị C, anh K không còn sống chung với nhau. Chị C đã trở về quê nhà ở Hà Tĩnh sinh sống và làm ăn nhiều năm nay. Chị C nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống được với nhau nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn K.

Trong thời kỳ hôn nhân, anh chị không có con chung; về tài sản chung và nợ chung: chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục cấp, tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Trần Văn K nhưng anh K không lên Tòa án để làm việc nên không thể tiến hành ghi lời khai, ý kiến của anh K.

Ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện H:

- Về chấp hành pháp luật: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa là đúng pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị C, xử cho chị C được ly hôn anh K; về con chung: không có nên không giải quyết; về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

Chị Trần Thị C khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn K. Anh K có nơi cư trú tại thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Quảng Nam. Do đó, căn cứ vào các khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Nam.

Theo biên bản xác minh ngày 01/11/2024 tại Công an xã S, huyện H, tỉnh Quảng Nam thì anh K có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Quảng Nam nhưng thường xuyên vắng mặt tại địa phương. Tòa án đã đến nơi cư trú của anh K để làm việc nhưng không gặp. Vì vậy, Tòa án không thể tiến hành việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng và tiến hành hòa giải được nên đã tiến hành thủ tục niêm yết công khai theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa ngày 22/01/2025, anh K vắng mặt lần thứ nhất không có lý do nên Tòa án quyết định hoãn phiên tòa. Đến phiên tòa hôm nay, anh K vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh K. Đối với chị Trần Thị C có đơn xin xét xử vắng mặt nên có thể tiến hành xét xử vắng mặt chị C.

. Về nội dung vụ án:

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị C và anh Trần Văn K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, lừa dối và có đăng ký kết hôn vào ngày 16/01/2015 tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện H, tỉnh Quảng Nam nên được pháp luật thừa nhận.

Sau khi kết hôn được khoảng thời gian thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị không tôn trọng, yêu thương nhau. Chị C và anh K không còn sống chung. Chị C đã trở về quê nhà ở Hà Tĩnh sinh sống và làm ăn nhiều năm nay.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh K đến Tòa án để hòa giải nhưng anh K không đến Tòa án làm việc. Điều đó thể hiện anh K không còn mong muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình. Đến nay, chị C nhận thấy không còn tình cảm, không quan tâm đến anh K nữa.

Từ những lý do trên cho thấy tình cảm vợ chồng giữa anh K, chị C đã rạn nứt, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị C yêu cầu ly hôn với anh K là có cơ sở chấp nhận, phù hợp với quy định tại các Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

. Về con chung: không có nên không giải quyết.

. Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

. Về án phí: Chị Trần Thị C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 51, Điều 56, Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị C đối với anh Trần Văn K về việc: “Ly hôn”.

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị C ly hôn anh Trần Văn K.

[2]. Về con chung: không có nên không giải quyết.

[3]. Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu nên không giải quyết.

[4]. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Trần Thị C phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm chị C đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0011381 ngày 29/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Quảng Nam. Chị Trần Thị C đã nộp đủ án phí.

[5]. Quyền kháng cáo: Chị Trần Thị C, anh Trần Văn K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ