vanban.org

Bản án 14/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Trương Thị Diễm M ly hôn anh Nguyễn Minh T.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Trương Minh T, sinh ngày 19/9/2012 và Nguyễn Trương Minh N, sinh ngày 12/8/2019 cho chị Trương Thị Diễm M trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến khi Minh T và Minh N thành niên. Anh Nguyễn Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Trương Thị Diễm M ly hôn anh Nguyễn Minh T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên quyền kháng cáo; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên quyền kháng cáo
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 31 - 3 - 2025
V/v ly hôn, tranh chấp
nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hướng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Giáp.

Bà Lê Thị Thanh Nhã.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 188/2024/TLST-HNGĐ, ngày 13 tháng 12 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: /2025/QĐST-HNGĐ ngày 1 tháng 0 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trương Thị Diễm M, sinh năm 1993. Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 22/11/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trương Thị Diễm M trình bày:

Chị Trương Thị Diễm M và anh Nguyễn Minh T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 19/12/2011 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 9 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến, nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, vợ chồng không sống chung từ tháng 9 năm 2024 đến nay. Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có hai con chung tên Nguyễn Trương Minh T, sinh ngày 19/9/2012 và Nguyễn Trương Minh N, sinh ngày 12/8/2019, hiện nay Minh T và Minh N do chị Diễm M nuôi dưỡng. Về tài sản chung: Không có. Về nợ chung: Không có.

Nay chị Trương Thị Diễm M yêu cầu như sau: Về hôn nhân: Chị Trương Thị Diễm M yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Minh T. Về con chung: Chị Trương Thị Diễm M yêu cầu nuôi con chung tên Nguyễn Trương Minh T, sinh ngày 19/9/2012 và Nguyễn Trương Minh N, sinh ngày 12/8/2019 đến khi thành niên, chị M không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 24/3/2025 nguyên đơn chị Trương Thị Diễm M có đơn đề nghị vắng mặt xét xử.

* Bị đơn anh Nguyễn Minh T: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T nhưng anh T không có ý kiến trình bày hay yêu cầu gì trong vụ án này.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Trương Minh T, sinh ngày 19/9/2012 và Nguyễn Trương Minh N, sinh ngày 12/8/2019 cho chị Trương Thị Diễm M nuôi dưỡng đến khi thành niên, anh T không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện lập ngày 20/11/2024, chị Trương Thị Diễm M khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Minh T có nơi cư trú tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện C thụ lý giải quyết theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.

Về xét xử vắng mặt đối với đương sự: Nguyên đơn chị Trương Thị Diễm M vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Minh T vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do khi đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về hôn nhân nhân: Chị Trương Thị Diễm M và anh Nguyễn Minh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình, chị M và anh T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân của chị M và anh T là hợp pháp. Sau khi kết hôn chị Diễm M và anh Minh T chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến nên cuộc sống không còn hạnh phúc và vợ chồng không sống chung từ tháng 9/2024.

Xét thấy, từ khi không còn sống chung đến nay, anh Minh T không chủ động gặp chị Diễm M để hàn gắn tình cảm, mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, hiện nay hôn nhân của chị Diễm M và anh Minh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên chị M và anh T không còn khả năng đoàn tụ. Vì vậy, chị Diễm M yêu cầu được ly hôn với anh T là có cơ sở và phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có hai con chung tên Nguyễn Trương Minh T, sinh ngày 19/9/2012 và Nguyễn Trương Minh N, sinh ngày 12/8/2019, hiện nay Minh T và Minh N do chị Diễm M đang nuôi dưỡng. Chị Trương Thị Diễm M yêu cầu nuôi con chung tên Nguyễn Trương Minh T, sinh ngày 19/9/2012 và Nguyễn Trương Minh N, sinh ngày 12/8/2019 đến khi thành niên. Qua ý kiến trình bày nguyện vọng của con chung Nguyễn Trương Minh T có nguyện vọng sống cùng với mẹ khi cha mẹ ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao Nguyễn Trương Minh T, sinh ngày 19/9/2012 và Nguyễn Trương Minh N, sinh ngày 12/8/2019 cho chị Diễm Mi nuôi dưỡng đến khi thành niên.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trương Thị Diễm M không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Chị Trương Thị Diễm M không cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Chị Trương Thị Diễm M không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của ủy ban thường vụ quốc hội, buộc chị Trương Thị Diễm Mi phải nộp án phí dân sự sơ thẩm; anh Nguyễn Minh Thiện không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chị Trương Thị Diễm M ly hôn anh Nguyễn Minh T.

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Trương Minh T, sinh ngày 19/9/2012 và Nguyễn Trương Minh N, sinh ngày 12/8/2019 cho chị Trương Thị Diễm M trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến khi Minh T và Minh N thành niên. Anh Nguyễn Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Nguyễn Trương Minh T và Nguyễn Trương Minh N cho anh T, không ai được cản trở. Anh Nguyễn Minh T không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục Nguyễn Trương Minh T và Nguyễn Trương Minh N của chị Trương Thị Diễm M.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trương Thị Diễm M không có yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về án phí sơ thẩm: Chị Trương Thị Diễm M phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng chị Diễm M được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0006883 ngày 04/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Sóc Trăng, như vậy chị Diễm M đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm; anh Nguyễn Minh T không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Trương Thị Diễm M và anh Nguyễn Minh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt bản án hợp lệ để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ