vanban.org

Bản án 14/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ông Nguyễn Thanh T1 được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thiên P.

Về con chung: Ông Nguyễn Thanh T1 và bà Nguyễn Thị Thiên P có 01 người con chung là cháu Nguyễn Nhất T2, sinh ngày 06/11/2016. Ông Nguyễn Thanh T1 được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là cháu Nguyễn Nhất T2, sinh ngày 06/11/2016 đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Nguyễn Thanh T yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Thiên P"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ông Nguyễn Thanh T1 được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thiên P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU ĐỨC
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST
Ngày 20-02-2025.
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Pho.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Ngọc Phi

2. Bà Trần Thị Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảo Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương T – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 254/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024 về việc “tranh chấp ly hôn,” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm: 1985

Địa chỉ: Số I, K, khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thiên P, sinh năm: 1988

Địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

(Ông T1 có đơn xin xét xử vắng mặt, bà P vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tố tụng nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thanh T1 và bà Nguyễn Thị Thiên P chung sống và đăng ký kết hôn tại UBND phường L, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 19, ngày 02/3/2016. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc, được sự đồng ý của hai bên gia đình và có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán. Sau khi, kết hôn vợ chồng chung sống tại số I, K, khu phố A, phường L, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh, đến tháng 6/2023 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng cho đến nay. Nguyên nhân do không hợp tính tình, từ đó thường xảy ra mâu thuẫn, xung đột, bất đồng quan điểm nên không tìm thấy tiếng nói chung. Do mâu thuẫn nên ông T1 và bà P sống ly thân với nhau từ tháng 6 năm 2023, bà P về nhà cha mẹ ruột tại thôn C, xã C, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu sống cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng không tìm cách hàn gắn tình cảm mà để mặc cho mâu thuẫn đến đâu thì đến. Vì vậy, ông T1 yêu cầu được ly hôn với bà P để chấm dứt tình trạng hôn nhân như hiện nay.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Nhất T2, sinh ngày 06/11/2016. Sau khi ly hôn ông T1 yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Thiên P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Theo kết quả xác minh bà Nguyễn Thị Thiên P có hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã C, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cư trú và sinh sống tại địa chỉ trên.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Bị đơn bà Nguyễn Thị Thiên P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; không ai cung thêm cấp tài liệu, chứng cứ mới.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa:

+ Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

+ Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T1 về việc xin ly hôn với bà P. Giao cháu Nguyễn Nhất T2 cho ông T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn và bà P không cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng ông Nguyễn Thanh T1 yêu cầu Tòa án giải quyết về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với bà Nguyễn Thị Thiên P được xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu quy định tại khoản 1 và khoản 5 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thanh T1 và bà Nguyễn Thị Thiên P tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại UBND phường L, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo ông T1, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc và có với nhau 01 người con chung, nhưng đến tháng 6/2023 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do không hợp tính, xung đột, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Do mâu thuẫn nên sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên ông T1 yêu cầu được ly hôn. Qúa trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập nhiều lần để làm rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng bà P vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì. Trong khi đó, ông T1 cho rằng mâu thuẫn trầm trọng kéo dài không giải quyết được nên yêu cầu được ly hôn, còn bà P cố tình vắng mặt. Xét thấy, vợ chồng không có thiện chí hàn gắn tình cảm nên ông T1 yêu cầu ly hôn là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Trong quá trình chung sống thì ông T1 và bà P có 01 người con chung là cháu Nguyễn Nhất T2, sinh ngày 06/11/2016. Ông T1 có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, từ khi ông T1 và bà P ly thân từ tháng 6 năm 2023 cho đến nay thì ông T1 nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Nhất T2. Hiện tại cuộc sống cháu Nguyễn Nhất T2 đã ổn định. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của cháu Nguyễn Nhất T2 nên cần giao cháu T2 cho ông T1 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến 18 tuổi là phù hợp theo quy định tại Điều 81 luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng: Theo đơn khởi kiện ông T1 không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Ông T1 là nguyên đơn phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ông Nguyễn Thanh T1 được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thiên P.

Về con chung: Ông Nguyễn Thanh T1 và bà Nguyễn Thị Thiên P có 01 người con chung là cháu Nguyễn Nhất T2, sinh ngày 06/11/2016.

Ông Nguyễn Thanh T1 được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là cháu Nguyễn Nhất T2, sinh ngày 06/11/2016 đến tuổi trưởng thành (18 tuổi).

Bà Nguyễn Thị Thiên P không cấp dưỡng nuôi con chung và được quyền thăm nom con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng không ai được quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc của cá nhân, cơ quan tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con hoặc yêu cầu người không trực tiếp nuôi dưỡng con phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Ông Nguyễn Thanh T1 nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí mà ông T1 đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức theo biên lai số 0001047 ngày 14/6/2024. Như vậy ông Nguyễn Thanh T1 đã nộp xong án phí.

Hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20/02/2025); Ông Nguyễn Thanh T1, bà Nguyễn Thị Thiên P vắng mặt thì thời hạn này được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Nơi nhận:

Cỡ chữ