- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tẩn Tả M ly hôn anh Tẩn Láo T"
- Tòa quyết gì? Xử cho chị Tẩn Tả M được ly hôn anh Tẩn Láo T. Quan hệ hôn nhân của chị Tẩn Tả M và anh Tẩn Láo T chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7-LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14 /2025/HNGĐ – ST- BX Ngày 04 tháng 9 năm 2025. “ V/v Ly hôn,tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Duy Chiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Minh Huấn;
2. Ông Sùng A Cở;
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hồng Hà - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 7 -Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 7 – Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 62/2025/TLST - HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2025 về: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/QĐST - HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2025; Giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Tẩn Tả M, sinh ngày 08/6/2000;
Địa chỉ: Thôn Ph, xã Tr, huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là thôn Ph, xã Tr, tỉnh Lào Cai).
Có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Tẩn Láo T, sinh ngày 12/11/1997.
Địa chỉ: Thôn Ph, xã Tr, huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là thôn Ph, xã Tr, tỉnh Lào Cai).
Vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hương Thủy – Trợ giúp viên, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện nộp Tòa án ngày 16/6/2025 và trong quá trình Tòa án giải quyết, nguyên đơn chị Tẩn Tả M trình bày:
Chị và anh Tẩn Láo T kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tr, huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là xã Tr, tỉnh Lào Cai) theo giấy chứng nhận kết hôn số 36 ngày 25/10/2018.
Sau khi kết hôn, anh, chị sống với nhau hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T ham chơi, không tu chí làm ăn, xây dựng kinh tế gia đình, mặt khác để có tiền ăn chơi anh T còn đi vay mượn làm ảnh hưởng đến gia đình, chị đã khuyên giải nhiều lần nhưng không khắc phục được, xuất phát từ đó vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Thực tế từ năm 2023 hai vợ chồng đã sống ly thân không quan tâm đến nhau. Sau khi mâu thuẫn xảy ra, gia đình hai bên đã hòa giải nhưng không khắc phục được. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trở nên trầm trọng hơn, chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Tẩn Láo T.
Về con: Trong thời gian chung sống, vợ chồng sinh được 02 người con chung, cháu thứ nhất Tẩn Mạnh C, sinh ngày 29/8/2019; cháu thứ hai Tẩn Gia H, sinh ngày 12/12/2020. Khi ly hôn chị có nguyện vọng trực tiếp nuôi cả hai con đến tuổi trưởng thành. Không yêu cầu anh Tả cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị và anh Tẩn Láo T không nợ ai và không cho ai vay, vì vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tẩn Tả M.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Tẩn Tả M được ly hôn anh Tẩn Láo T. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 57 chấp nhận yêu cầu cầu của chị M, chị Tẩn Tả M được ly hôn với anh Tẩn Láo T;
Về con chung: Căn cứ Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Giao cả hai cháu cho chị Tẩn Tả M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Anh Tẩn Láo T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con nuôi mà không ai được cản trở. Chị Tẩn Tả M không yêu cầu anh Tẩn Láo T cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về án phí: Chị Tẩn Tả M được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Đối với bị đơn anh Tẩn Láo T, do anh thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú, vì vậy không tống đạt trực tiếp được, Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng theo qui định của pháp luật nhưng anh Tả không đến và không nộp tài liệu chứng cứ gì.
Đối với vụ án này chị Tẩn Tả M có đơn đề nghị Tòa án không hòa giải, vì vậy vụ án này không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên toà:
Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Lào Cai có quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án dân sự tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, đảm bảo việc giải quyết vụ án dân sự kịp thời, đúng pháp luật, thu thập chứng cứ đúng theo quy định pháp luật. Thư ký phiên toà và nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 sửa đổi, bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Tẩn Tả M được ly hôn anh Tẩn Láo T.
Về con chung: Giao 2 cháu Tẩn Mạnh C, sinh ngày 29/8/2019 và cháu Tẩn Gia H, sinh ngày 12/12/2020 cho chị Tẩn Tả M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Anh Tẩn Láo T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Tẩn Tả M không yêu cầu anh Tẩn Láo T cấp dưỡng tiền nuôi con nên không xem xét, giải quyết.
Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Chị Tẩn Tả M được miễn án phí dân sự sơ thẩm, tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Tẩn Láo T có địa chỉ tại thôn Ph, xã Tr , huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là thôn Ph, xã Tr, tỉnh Lào Cai). Như vậy Tòa án nhân dân Khu vực 7- Lào Cai thụ lý vụ án là phù hợp với khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều 35 sửa đổi, bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025.
Chị Tẩn Tả M có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Tẩn Láo T vắng mặt lần hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Tẩn Tả M và anh Tẩn Láo T.
Chị Tẩn Tả M và anh Tẩn Láo T kết hôn với nhau, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Tr, huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là xã Tr, tỉnh Lào Cai) theo giấy chứng nhận kết hôn số 36 ngày 25/10/2018 trên cơ sở tự nguyện, như vậy hôn nhân này là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ và công nhận.
Xét đối với yêu cầu của nguyên đơn:
Theo nguyên đơn trình bày thì anh, chị sống với nhau hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T ham chơi, không tu chí làm ăn, xây dựng kinh tế gia đình, mặt khác để có tiền ăn chơi anh Tả còn đi vay mượn làm ảnh hưởng đến gia đình, chị đã khuyên giải nhiều lần nhưng không khắc phục được, xuất phát từ đó vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Thực tế từ năm 2023 hai vợ chồng đã sống ly thân không quan tâm đến nhau. Xét thấy mâu thuẫn của anh, chị là có thật, mâu thuẫn của vợ chồng, do chị M cung cấp phù hợp với nội dung xác nhận của địa phương. Nay chị M xin ly hôn là có căn cứ, chấp nhận yêu cầu của chị M, áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử cho chị Tẩn Tả M đựợc ly hôn anh Tẩn Láo T.
Về con: Trong quá trình chung sống anh, chị sinh được 02 người con chung, cháu thứ nhất Tẩn Mạnh C, sinh ngày 29/8/2019; cháu thứ hai Tẩn Gia Hân, sinh ngày 12/12/2020. Khi ly hôn chị xin được nuôi dưỡng cả hai cháu đến tuổi trưởng thành.
Xét thấy chị Tẩn Tả M là lao động tự do, thu nhập bình quân theo xác nhận của địa phương nơi chị M cư trú từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng/ngày, bản thân anh Tẩn Láo T không đến Tòa án và không có văn bản trả lời, cháu Tẩn Mạnh Cg và cháu Tẩn Gia H vẫn còn nhỏ, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Tẩn Tả M, giao cả hai cháu cho chị Tẩn Tả M nuôi dưỡng đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp với Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về tiền cấp dưỡng nuôi con:
Chị Tẩn Tả M không yêu cầu anh Tẩn Láo T cấp dưỡng tiền nuôi con chung, xét thấy yêu cầu của chị M là tự nguyện, vì vậy tạm thời anh Tẩn Láo T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con nuôi.
Về tài sản: Chị Tẩn Tả M không yêu cầu Toà án giải quyết, trong quá trình chung sống vợ chồng không nợ ai và không cho ai vay, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí: Chị Tẩn Tả M có đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm. Căn cứ vào đơn xin miễn án phí và Giấy chứng nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo số 469/GCN-HN.HCN ngày 06/01/2025 do Ủy ban nhân dân xã Tr, huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là xã Tr, tỉnh Lào Cai) cấp thì hộ chị Tẩn Tả M là hộ nghèo.
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, chị Tẩn Tả M được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 35 sửa đổi, bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 57; Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Xử cho chị Tẩn Tả M được ly hôn anh Tẩn Láo T. Quan hệ hôn nhân của chị Tẩn Tả M và anh Tẩn Láo T chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con: Chị Tẩn Tả M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung, cháu Tẩn Mạnh C, sinh ngày 29/8/2019 và cháu Tẩn Gia Hân, sinh ngày 12/12/2020 cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm thời anh Tẩn Láo T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Anh Tẩn Láo T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Tẩn Tả M được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự, có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TA tỉnh Lào Cai; - VKSND Khu vực 7-Lào Cai (2); - Đương sự (2); - UBND xã Tr; - THA DS tỉnh Lào Cai; - Lưu TA,VP, HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TP Hoàng Duy Chiến báo cáo vụ án HNGĐ 1.Nguyên đơn: Chị Tẩn Láo T, sinh ngày 09/10/2000; là thôn Tả Phìn, xã Dền Sáng, tỉnh Lào Cai). 2.Bị đơn: Anh Tẩn Láo T, sinh ngày 10/6/1996. là thôn Tả Phìn, xã Dền Sáng, tỉnh Lào Cai). NỘI DUNG VỤ ÁN 18/9/2020 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Dền Thàng, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai (nay là xã Dền Sáng, tỉnh Lào Cai) theo giấy chứng nhận kết hôn số 18, ngày 18/9/2020. sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Lử ham chơi không tu chí làm ăn, không tập chung xây dựng kinh tế gia đình, chị đã khuyên giải nhiều lần nhưng anh Lử không thay đổi, mặt khác anh Lử còn thường xuyên uống rượi, mỗi khi uống rượi về nhà là anh Lử gây sự, chửi mắng chị, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau và không tôn trọng nhau, chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại thôn Sín Chải, xã Dền Thàng để ở từ tháng 6/2023. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trở nên trầm trọng, chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Tẩn Láo T. cháu thứ nhất là Phàng Thị Cà, sinh ngày 28/10/2017 và cháu thứ hai Phàng A Dình, sinh ngày 04/01/2020, hiện cả hai cháu đang sống với anh Tẩn Láo Ttừ khi vợ chồng sống ly thân. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi. Tại bản khai ngày 16/5/2025 chị đã thay đổi và đồng ý để con cho anh Tẩn Láo Ttrực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, vì lý do chị thường xuyên đi làm xa nhà không có điều kiện chăm sóc con. cháu là 500.000 đồng/tháng cho đến khi các cháu trưởng thành. Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết. anh Lử, anh Lử đã được nghe đọc nội dung các văn bản tố tụng nhưng từ chối ký nhận văn bản, mặt khác khi Tòa án đến tống đạt các văn bản tố tụng thì anh Lử có lần vắng mặt tại nơi cư trú, Tòa án đã phải lập biên bản về việc từ chối nhận văn bản tố tụng và niêm yết theo quy định của pháp luật, mặc dù anh Lử đã biết được nội dung chị Tẩn Láo T khởi kiện về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn nhưng không có văn bản trả lời và không nộp tài liệu, chứng cứ cho Toà án. QUAN ĐIỂM 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự. 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Tuyên xử: chị Tẩn Láo T và anh Tẩn Láo Tchấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. cháu Phàng Thị Cà, sinh ngày 28/10/2017 và cháu Phàng A Dình, sinh ngày 04/01/2020 cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. dưỡng tiền nuôi con chung cho hai cháu Phàng Thị Cà, sinh ngày 28/10/2017 và cháu Phàng A Dình, sinh ngày 04/01/2020, mỗi cháu là 500.000 đồng/tháng cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại khoản 1 Điều 357, khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. trở. 3. Về án phí: Chị Tẩn Láo T được miễn án phí dân sự sơ thẩm. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Duy Chiến Hoàng Duy Chiến Địa chỉ: Thôn Tả Phìn, xã Dền Thàng, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai (nay Địa chỉ: Thôn Tả Phìn, xã Dền Thàng, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai (nay Chị và anh Tẩn Láo Tvề ở với nhau như vợ chồng từ năm 2017. Đến ngày Sau khi đăng ký kết hôn, anh, chị sống với nhau đến năm 2021 thì phát Về con: Trong thời gian chung sống, vợ chồng sinh được 02 con chung, Về cấp dưỡng nuôi con chị đồng ý cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi Về nợ chung: Chị và anh Tẩn Láo Tkhông nợ ai và không cho ai vay, vì Đối với bị đơn anh Tẩn Láo T, Tòa án đã giao các văn bản tố tụng cho Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 57; Điều 81, 82 và Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 1. Xử cho chị Tẩn Láo T được ly hôn anh Tẩn Láo T. Quan hệ hôn nhân của 2. Về con: Anh Tẩn Láo Ttrực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Tẩn Láo T phải có trách nhiệm cấp Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi Chị Tẩn Láo T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản |