vanban.org

Bản án 14/2025/HN&GĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Y.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y ly hôn anh Đặng Thành Đ. Giấy chứng nhận kết hôn số 77, đăng ký ngày 23/8/2017 tại Ủy ban nhân dân xã Đk, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận (nay là xã Nt, tỉnh Lâm Đồng) giữa chị Nguyễn Thị Y và anh Đặng Thành Đ hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Y.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 17 – LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HN&GĐ-ST
Ngày: 20-8-2025
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 – LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Thuận.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Huỳnh Thị Tâm.

2/ Ông Phạm Xuân Trường.

Thư ký phiên toà: Ông Bùi Chí Bảo - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Lĩnh – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 165/2025/TLST-HN&GĐ ngày 05 tháng 05 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HN&GĐ ngày 17 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2025/QĐST-HN&GĐ ngày 06 tháng 08 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1996;

Nơi cư trú: Xóm Đồng Sòng, xã Đh, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An (nay là xã Th, tỉnh Nghệ An).

- Bị đơn: Anh Đặng Thành Đ, sinh năm 1991;

Nơi cư trú: Tổ 4, thôn 5, xã Đk, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận (nay là xã Nt, tỉnh Lâm Đồng).

Tại phiên tòa, vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Về hôn nhân: Vào năm 2017, sau một thời gian tìm hiểu chị Y và anh Đ tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đk, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận (nay là xã Nt, tỉnh Lâm Đồng); vợ chồng chung sống không hạnh phúc phát sinh mâu thuẫn do anh Đ thường xuyên sử dụng rượu chè, nhiều lần đánh chị Y. Mâu thuẫn tiếp tục xảy ra ngày càng nghiêm trọng, vợ chồng hay cải vả nhau, cảm thấy không hạnh phúc nên chị Y bỏ về nhà ngoại sinh sống, dẫn đến chị Y và anh Đ ly thân cho đến nay. Chị Y xác định không còn tình cảm với anh Đ, mâu thuẫn trầm trọng và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Đ.

Về con chung: Chị Y và anh Đ có với nhau 01 con chung tên Đặng Ngọc Thảo Nguyên, sinh ngày 07/6/2018. Khi ly hôn chị Y yêu cầu mình sẽ là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Đặng Ngọc Thảo Nguyên; Yêu cầu anh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng với số tiền 2.000.000đồng/tháng, cấp dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung và nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Đối với bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống Đ hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải, giấy triệu tập và Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn, tuy nhiên bị đơn không cung cấp ý kiến, tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con, về cấp dưỡng nuôi con chung đối với bị đơn, không yêu cầu giải quyết tranh chấp về tài sản chung và nợ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn đã thực hiện quyền, nghĩa vụ đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện quyền, nghĩa vụ đúng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhập yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Y ly hôn anh Đặng Thành Đ.

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Y quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Đặng Ngọc Thảo Nguyên, sinh ngày 07/6/2018; buộc anh Đặng Thành Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

3. Ghi nhận ý kiến tự nguyện của chị Y về việc không yêu cầu giải quyết tranh chấp tài sản chung và nợ.

4. Buộc chị Y chịu án phí ly hôn, anh Đ chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn Nguyễn Thị Y khởi kiện ly hôn với bị đơn Đặng Thành Đ; bị đơn có nơi đăng ký thường trú tại tổ 4, thôn 5, xã Đk, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận (nay là xã Nt, tỉnh Lâm Đồng).

Căn cứ Điều 51, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng.

Về tố tụng: Bị đơn đã được tống Đ hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt và không có đơn xin xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ án như sau:

Về hôn nhân: Chị Y và anh Đ tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và đi đến hôn nhân vào năm 2017, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đk, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận (nay là xã Nt, tỉnh Lâm Đồng). Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị Y và anh Đ được công nhận là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Sau khi kết hôn, chị Y và anh Đ sống chung với nhau như vợ chồng được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo lời khai của chị Y là do anh Đ thường xuyên sử dụng rượu chè, nhiều lần đánh chị Y. Mâu thuẫn tiếp tục xảy ra ngày càng nghiêm trọng, vợ chồng hay cải vả nhau, cảm thấy không hạnh phúc nên chị Y bỏ về nhà ngoại sinh sống, dẫn đến chị Y và anh Đ ly thân cho đến nay; qua hòa giải và tại phiên tòa chị Y đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và kiên quyết ly hôn anh Đ.

Qua nội dung xác minh đối với bà Nguyễn Thị Tri (mẹ ruột của anh Đặng Thành Đ) vào ngày 07/7/2025 thể hiện giữa chị Y và anh Đ có mâu thuẫn với nhau.

Từ những phân tích trên cho thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị Y và anh Đ đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không Đ được. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Y đối với anh Đ.

Về con chung: Căn cứ bản sao giấy khai sinh số 164, đăng ký ngày 14/8/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Đh, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An (nay là xã Th, tỉnh Nghệ An) thì có cơ sở để khẳng định cháu Đặng Ngọc Thảo Nguyên, sinh ngày 17/6/2018 là con chung của chị Y và anh Đ.

Sau khi ly hôn, chị Y yêu cầu được nuôi dưỡng con chung; Tòa án chưa ghi nhận được ý kiến của anh Đ về vấn đề nuôi con chung. Xét thấy cháu Đặng Ngọc Thảo Nguyên, sinh ngày 17/6/2018 đã trên 36 tháng tuổi. Cháu Nguyên ở cùng với mẹ từ khi ly thân cho đến nay, do đó việc thay đổi môi trường sống ít nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến cháu Nguyên; mặt khác cháu Nguyên là cháu gái, việc các cháu sống cùng mẹ sẽ phát triển tốt hơn về mặt tâm sinh lý của cháu gái tuổi dậy thì; chị Y là người có đạo đức tốt, có việc làm và thu nhập ổn định; do đó, sau khi xem xét quyền lợi về mọi mặt của cháu Nguyên, Hội đồng xét xử quyết định giao cho chị Y quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là phù hợp với quy định tại khoản Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án, chị Y yêu cầu anh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng 2.000.000đồng/tháng. Cháu Nguyên là con chung của chị Y và anh Đ; hiện tại cháu Nguyên dưới 18 tuổi, còn nhỏ và đang đi học, nên chị Y và anh Đ đều phải có trách nhiệm đối với con chung; do cháu Nguyên được giao cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng nên chị Y yêu cầu anh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; mức cấp dưỡng mà chị Y yêu cầu là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị định 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ.

Về tài sản chung và nợ: Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của đương sự về việc không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm. Bị đơn phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; các Điều 143, 144, 147, 227, 228, 235, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025, Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Áp dụng các Điều 9, 51, 56, 57, 81, 82, 84, 110, 116, 117 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 7 của Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị định 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ. Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Y.

1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y ly hôn anh Đặng Thành Đ.

Giấy chứng nhận kết hôn số 77, đăng ký ngày 23/8/2017 tại Ủy ban nhân dân xã Đk, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận (nay là xã Nt, tỉnh Lâm Đồng) giữa chị Nguyễn Thị Y và anh Đặng Thành Đ hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Y quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Đặng Ngọc Thảo Nguyên, sinh ngày 17/6/2018.

Buộc anh Đặng Thành Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Đặng Ngọc Thảo Nguyên hàng tháng với số tiền 2.000.000đồng/tháng, cấp dưỡng kể từ tháng 8/2025 cho đến khi cháu Đặng Ngọc Thảo Nguyên đủ 18 tuổi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp lạm dụng việc thực hiện quyền này để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Điều 86 Luật hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chưa thành niên của người không trực tiếp nuôi con.

Chị Nguyễn Thị Y có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án ngay đối với khoản tiền cấp dưỡng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ: Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của đương sự về việc không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Y phải nộp số tiền 300.000đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận cũ (nay thuộc Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng) theo biên lai thu số 0005406 ngày 05/5/2025. Chị Nguyễn Thị Y đã nộp đủ tiền án phí.

Buộc anh Đặng Thành Đ phải nộp số tiền 300.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con. Án phí nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng hoặc Phòng Thi hành án dân sự khu vực 17 – Lâm Đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ