- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Bản án dân sự Phan Thị Duy Phương- Nguyễn Văn Khải + Lâm Thị Đính"
- Tòa quyết gì? 1/. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Duy P- Chủ hộ kinh doanh Đại lý T đối với ông Nguyễn Văn K và bà Lâm Thị Đ về việc tranh chấp hợp đồng mua bán.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN HÒA BÌNH TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:14/2025/DS-ST Ngày: 17-03-2025 “V/v Tranh chấp Hợp đồng mua bán”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Xuyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Tấn Phước
2. Ông Liêu Tài Ngoánh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Văn Hữu Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 03 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 320/2024/TLST- DS ngày 28 tháng 11 năm 2024 về “ Tranh chấp Hợp đồng mua bán”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXX-ST ngày 06 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/QĐST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị Duy P, sinh năm 1984 – Chủ hộ kinh doanh Đại lý T.
Địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Phạm Thị Lan A, sinh năm 2000 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp thị trấn B, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
(Theo hợp đồng ủy quyền đề ngày 09/8/2024)
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1963 (có đơn xin vắng mặt).
và bà Lâm Thị Đ, sinh năm 1963 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp G, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án– người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Phạm Thị Lan A trình bày:
Ông Nguyễn Văn K và bà Lâm Thị Đ có mua thiếu thức ăn nuôi tôm và các loại thuốc thủy sản của Hộ kinh doanh Đại lý T, việc mua bán giữa hai bên có ghi vào sổ mua bán. Tính đến ngày 31/5/2021, ông Nguyễn Văn K và bà Lâm Thị Đ còn nợ tiền thức ăn nuôi tôm và các loại thuốc thủy sản của H kinh doanh Đại lý T số tiền là 357.138.000 đồng (Ba trăm năm mươi bảy triệu một trăm ba mươi tám nghìn đồng). Việc ông Nguyễn Văn K và bà Lâm Thị Đ nợ H kinh doanh Đại lý T số tiền nợ 357.138.000 đồng (Ba trăm năm mươi bảy triệu một trăm ba mươi tám nghìn đồng) thì ông K có ký bảng đối chiếu xác nhận công nợ vào ngày 31/5/2021 cho Hộ kinh doanh Đại lý T. Từ khi thiếu nợ H kinh doanh Đại lý T số tiền 357.138.000 đồng (Ba trăm năm mươi bảy triệu một trăm ba mươi tám nghìn đồng) đến nay thì ông K và bà Đ có trả cho H kinh doanh Đại lý T số tiền là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Ngoài ra, ông K và bà Đ không còn trả cho H kinh doanh Đại lý T số tiền nào khác.
Nay, bà Phan Thị Duy P – Chủ hộ kinh doanh Đại lý T yêu cầu ông Nguyễn Văn K và bà Lâm Thị Đ trả cho hộ kinh doanh Đại lý T số tiền là 356.638.000 đồng (Ba trăm năm mươi sáu triệu sáu trăm ba mươi tám nghìn đồng), không yêu cầu tính lãi chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán, chỉ yêu cầu ông Nguyễn Văn K và bà Lâm Thị Đ trả lãi chậm trả trong giai đoạn thi hành án. Ngoài ra, bà Phan Thị Duy P – Chủ hộ kinh doanh Đại lý T không còn có yêu cầu gì khác.
Tại biên bản lấy lời khai đề ngày 25 tháng 12 năm 2024, bị đơn là ông Nguyễn Văn K trình bày: Ông và bà Lâm Thị Đ là vợ chồng, ông K và bà Lâm Thị Đ có mua thiếu thức ăn nuôi tôm và các loại thuốc thủy sản của Hộ kinh doanh Đại lý T, việc mua bán giữa hai bên có ghi vào sổ mua bán. Tính đến ngày 31/5/2021, ông Nguyễn Văn K và bà Lâm Thị Đ còn nợ tiền thức ăn nuôi tôm và các loại thuốc thủy sản của H kinh doanh Đại lý T số tiền là 357.138.000 đồng (Ba trăm năm mươi bảy triệu một trăm ba mươi tám nghìn đồng). Việc ông Nguyễn Văn K và bà Lâm Thị Đ nợ H kinh doanh Đại lý T số tiền nợ 357.138.000 đồng (Ba trăm năm mươi bảy triệu một trăm ba mươi tám nghìn đồng) thì ông K có ký bảng đối chiếu xác nhận công nợ vào ngày 31/5/2021 cho Hộ kinh doanh Đại lý T. Từ khi thiếu nợ H kinh doanh Đại lý T số tiền 357.138.000 đồng (Ba trăm năm mươi bảy triệu một trăm ba mươi tám nghìn đồng) đến nay thì ông K và bà Đ có trả cho H kinh doanh Đại lý T số tiền là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Ngoài ra, ông K và bà Đ không còn trả cho hộ kinh doanh Đại lý T số tiền nào khác.
Nay trước yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Duy P- Chủ hộ kinh doanh Đại lý T thì ông Nguyễn Văn K và bà Lâm Thị Đ đồng ý trả cho H kinh doanh Đại lý T số tiền nợ là 356.638.000 đồng (Ba trăm năm mươi sáu triệu sáu trăm ba mươi tám nghìn đồng). Ngoài ra, ông K không còn ý kiến trình bày gì thêm.
Đối với bà Lâm Thị Đ không có lời trình bày tại Toà án, đồng thời, bà Lâm Thị Đ cũng không có cung cấp cho Toà án tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu của bà Phan Thị Duy P- Chủ hộ kinh doanh Đại lý T theo quy định của pháp luật. Tòa án cũng đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của thủ tục tố tụng dân sự cho bà Đ, nhưng bà Đ không đến Tòa án. Vì vậy, theo quy định của pháp luật nếu bị đơn không cung cấp, tài liệu, chứng cứ cũng như ý kiến của mình thì Toà án căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết.
* Ý kiến của Viện kiểm sát:
- Về tố tụng: Quá trình từ khi thụ lý đến khi xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
-Về nội dung đề xuất:
Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 430, Điều 440 Bộ luật dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Phan Thị Duy P- Chủ hộ kinh doanh Đại lý T đối với ông Nguyễn Văn K và bà Lâm Thị Đ về việc tranh chấp hợp đồng mua bán.
Buộc ông Nguyễn Văn K và bà Lâm Thị Đ có nghĩa vụ thanh toán cho bà Phan Thị Duy P - Chủ hộ kinh doanh Đại lý T số tiền 356.638.000 đồng (Ba trăm năm mươi sáu triệu sáu trăm ba mươi tám nghìn đồng).
Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Nguyễn Văn K và bà Lâm Thị Đ phải nộp số tiền án phí có giá ngạch theo quy định, hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho bà Phan Thị Duy P- Chủ hộ kinh doanh Đại lý T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là bà Phan Thị Duy P- Chủ hộ kinh doanh Đại lý T khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn K và bà Lâm Thị Đ trả số tiền mua thức ăn tôm và các loại thuốc thủy sản còn nợ, căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân. Bị đơn là ông Nguyễn Văn K và bà Lâm Thị Đ có nơi cư trú tại ấp G, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, bà Phạm Thị Lan A là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn là ông Nguyễn Văn K có đơn xin vắng mặt, bà Lâm Thị Đ vắng mặt tại phiên tòa. Toà án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu đã tiến hành tống đạt các thủ tục tố tụng dân sự cho bà Đ theo quy định để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án theo yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Duy P- Chủ hộ kinh doanh Đại lý Tân Quang M, nhưng bà Đ vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà A, ông K và bà Đ.
Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu ông Nguyễn Văn K và bà Lâm Thị Đ có nghĩa vụ thanh toán số tiền 356.638.000 đồng (Ba trăm năm mươi sáu triệu sáu trăm ba mươi tám nghìn đồng).
Tại phiên tòa, bà Lâm Thị Đ vắng mặt không đến Tòa án tham dự phiên tòa, đồng thời, bà Lâm Thị Đ cũng không nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ và văn bản trình bày ý kiến phản đối của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn. Trong khi đó, quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, bà Phạm Thị Lan A là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn là ông Nguyễn Văn K đều thống nhất thừa nhận: Hiện nay, ông Nguyễn Văn K và bà Lâm Thị Đ có nợ H kinh doanh Đại lý T số tiền nợ là 356.638.000 đồng (Ba trăm năm mươi sáu triệu sáu trăm ba mươi tám nghìn đồng). Sự thừa nhận của bà A, ông K phù hợp với Bảng đối chiếu xác nhận công nợ do nguyên đơn cung cấp tại Tòa án (BL - 06). Do vậy, đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét thấy, việc thỏa thuận mua bán thức ăn nuôi tôm và các loại thuốc thủy sản giữa các bên trên cơ sở tự nguyện, việc này có xảy ra trên thực tế. Hộ kinh doanh Đại lý T có bán thức ăn nuôi tôm và các loại thuốc thủy sản cho ông K, bà Đ và hiện ông K, bà Đ còn nợ lại H kinh doanh Đại lý Tân Quang M số tiền 356.638.000 đồng (Ba trăm năm mươi sáu triệu sáu trăm ba mươi tám nghìn đồng) chưa thanh toán. Như vậy, việc bà Phan Thị Duy P- Chủ hộ kinh doanh Đại lý T yêu cầu ông K, bà Đ trả số tiền nợ 356.638.000 đồng (Ba trăm năm mươi sáu triệu sáu trăm ba mươi tám nghìn đồng) là có căn cứ. Căn cứ theo quy định tại Điều 430, Điều 440 Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị Duy P- Chủ hộ kinh doanh Đại lý T. Do đó, buộc ông Nguyễn Văn K và bà Lâm Thị Đ có nghĩa vụ thanh toán cho bà Phan Thị Duy P- Chủ hộ kinh doanh Đại lý T số tiền nợ 356.638.000 đồng (Ba trăm năm mươi sáu triệu sáu trăm ba mươi tám nghìn đồng).
Về án phí: Ông Nguyễn Văn K và bà Lâm Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Án phí sơ thẩm, ông Nguyễn Văn K và bà Lâm Thị Đ phải chịu nộp số tiền là 356.638.000 đồng x 5% = 17.831.900 đồng (Mười bảy triệu tám trăm ba mươi mốt nghìn chín trăm đồng).
Bà Phan Thị Duy P- Chủ hộ kinh doanh Đại lý T đã dự nộp số tiền 8.915.950 đồng (Tám triệu chín trăm mười lăm nghìn chín trăm năm mươi đồng) tại biên lai thu số 0005779 ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu được hoàn lại.
Từ những phân tích trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình là có căn cứ, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 430, Điều 440 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
1/. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Duy P- Chủ hộ kinh doanh Đại lý T đối với ông Nguyễn Văn K và bà Lâm Thị Đ về việc tranh chấp hợp đồng mua bán.
Buộc ông Nguyễn Văn K và bà Lâm Thị Đ có nghĩa vụ thanh toán cho bà Phan Thị Duy P- Chủ hộ kinh doanh Đại lý T số tiền 356.638.000 đồng (Ba trăm năm mươi sáu triệu sáu trăm ba mươi tám nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N công bố tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
2/. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Nguyễn Văn K và bà Lâm Thị Đ phải chịu số tiền là 17.831.900 đồng (Mười bảy triệu tám trăm ba mươi mốt nghìn chín trăm đồng).
Bà Phan Thị Duy P- Chủ hộ kinh doanh Đại lý T đã dự nộp số tiền 8.915.950 đồng (Tám triệu chín trăm mười lăm nghìn chín trăm năm mươi đồng) tại biên lai thu số 0005779 ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu được hoàn lại.
3/. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án.
| THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Phan Thị Mỹ X |