vanban.org

Bản án 14/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang Tuyên án 19/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 10/01/2024. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Mạnh Cường phạm tội tràng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUANG BÌNH
TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/HS-ST
Ngày 19 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nông Thị Vân

Ông Nguyễn Bảo Long

- Thư ký phiên toà: Ông Lâm Thái Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quang Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Ông Vi Lương Quỳnh - Kiểm sát viên

Ngày 19/6/2024 tại trụ sở thôn L, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2024/TLST-HS ngày 06/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS ngày 05/6/2024 đối với bị cáo:

- Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1992, tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: Khu X, phường X, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: Thôn N, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; căn cước công dân số: 02209***3507, do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ Công an cấp ngày 09/5/2021; con ông: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1968 và bà Vũ Thị Thanh M, sinh năm 1967; Vợ: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 01/8/2019 bị công an thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/01/2024, tạm giam từ ngày 16/01/2024, hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Q, tỉnh Hà Giang; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án

+ Anh Trần Trọng S, sinh năm 1982, trú tại Tổ 1, Khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ ngày 10/01/2024 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên C tự ý lấy xe mô tô BKS 21B1 - 728.58 của Trần Trọng S, sinh năm 1982, trú tại tổ 1, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, đi từ nhà trọ của C thuộc thôn N, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang ra khu vực ngã ba Bắc Quang đi Quang Bình thuộc tổ 3, thị trấn Việt Quang, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang, C gặp một người nam giới không biết tên, tuổi, địa chỉ đang ngồi trên xe mô tô, đầu đội mũ bảo hiểm, đeo khẩu trang, C hỏi người đó "Anh có đá với kẹo bán không" ý C hỏi mua ma túy đá và ma túy tổng hợp, thì người đó trả lời là "có", C hỏi mua ma túy đá với giá 200.000 đồng và 04 viên ma túy tổng hợp, người đàn ông trả lời 04 viên ma túy tổng hợp giá 400.000 đồng và bảo C đi theo đường Quốc lộ 279 vào huyện Quang Bình đến cột mốc Km19 rồi để tiền vào bên trong chân cột mốc, 20 phút sau quay lại lấy ma túy. C làm theo hướng dẫn, C đi theo đường quốc lộ 279 hướng huyện Bắc Quang đi huyện Quang Bình, đến cột mốc Km19 thuộc thôn Mác Thượng, xã Tân Trịnh, huyện Quang Bình C để số tiền 600.000 đồng (bao gồm 01 tờ mệnh giá 500.000 đồng và 01 tờ mệnh giá 100.000 đồng) vào mặt bên trong cột mốc rồi C điều khiển xe đi về hướng huyện Quang Bình, khoảng 20 phút sau C quay lại cột mốc Km19 thì thấy 01 túi nilon bên trong có 01 hộp màu vàng, C mở hộp nhựa màu vàng bên trong hộp có 01 túi nilon màu trắng có 04 viên nén màu đỏ và 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa các hạt dạng tinh thể màu trắng. Sau khi kiểm tra xong C buộc gói nilon lại cho vào túi áo khoác bên phải rồi đi về. Đến 19 giờ 41 phút cùng ngày khi C về đến địa phận thôn My Bắc, xã Tân Bắc, huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang thì C bị tổ công tác Công an huyện Quang Bình phát hiện bắt quả tang trong túi áo khoác bên phải C đang mặc có 01 túi nilon màu trắng, bên trong túi nilon có 01 hộp nhựa màu vàng, bên trong hộp có: 01 túi nilon màu trắng có 04 viên nén màu đỏ, 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa các hạt dạng tinh thể màu trắng. Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang Nguyễn Mạnh C khai nhận 04 viên nén màu đỏ là ma túy tổng hợp thường gọi là kẹo, chất hạt dạng tinh thể màu trắng là ma túy đá, C mua của một người đàn ông không biết tên tuổi địa chỉ ở huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang với mục đích về để sử dụng.

Ngày 10/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang tiến hành cân tịnh xác định các chất nghi ma túy thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Mạnh C, kết quả:

+ Chất tinh thể màu trắng ký hiệu A1 có khối lượng 0,326 gam.

+ 04 viên nén hình tròn màu đỏ ký hiệu A2 có khối lượng 0,417 gam.

- Tổng khối lượng các chất nghi là ma túy thu giữ khi bắt quả tang là: 0,743 gam.

Tại Bản kết luận giám định số: 65/KL- KTHS ngày 16/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang kết luận:

“Mẫu vật cần giám định ký hiệu A1, A2 đều là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,743 gam

Methamphetamine nằm trong danh mục II, mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”

Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKSQB ngày 06/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C từ 16 đến 19 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 10/01/2024; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng và nghĩa vụ chịu án phí đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhất trí với đề nghị của Viện Kiểm sát về tội danh, mức hình phạt và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội qủa tang, biên bản thu giữ vật chứng, sơ đồ hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ các chứng cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 10/01/2024, Nguyễn Mạnh C một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave alpha, màu sơn xanh, biển kiểm soát 21B1 – 728.58 đi từ nhà trọ của C thuộc thôn N, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang đến khu vực ngã ba huyện Bắc Quang đi huyện Quang Bình, C dùng số tiền 600.000 đồng để mua ma tuý loại Methamphetamine có trọng lượng 0,743 gam của một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ với mục đích về để sử dụng. Sau khi mua được ma túy C điều khiển xe mô tô đi về đến địa phận thôn My Bắc, xã Tân Bắc, huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang thì bị tổ công tác Công an huyện Quang Bình phát hiện bắt quả tang C đang tàng trữ trái phép chất ma túy trong túi áo khoác đang mặc trên người. Do vậy hành vi trên của bị cáo C đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự của Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma túy, đe dọa nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của con người, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống kinh tế, xã hội và là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nghiêm trọng khác như trộm cắp, giết người, cướp tài sản. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, ma túy là chất cấm sử dụng, là chất có hại cho sức khỏe của con người, phá hoại phẩm giá của con người, hạnh phúc của gia đình, gây giảm sút về kinh tế và là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác nhưng để thỏa mãn cơn nghiện của mình bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, cần phải xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

Song tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, mẹ đẻ của bị cáo là người có công đóng góp trong sự nghiệp giáo dục, được tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với hành vi của người bán chất ma tuý cho Nguyễn Mạnh C, do quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quang Bình chưa xác định được nhân thân lai lịch của người bán ma túy cho C. Vì vậy tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử không xem xét đến.

Về vật chứng của vụ án:

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave alpha, màu sơn xanh, BKS 21B1 - 728.58 là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Trần Trọng S, anh S không biết việc bị cáo C lấy để sử dụng đi mua ma túy. Quá trình điều tra Cơ quan công an trả lại cho chủ sở hữu, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét đến.

- 0,28 gam chất ma túy Methamphetamine ký hiệu A1 và 0,27 gam chất ma túy Methamphetamine ký hiệu A2 còn lại sau giám định được niêm phong trong một phong bì, mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn lại sau giám định, ký hiệu A1, A2”. Mặt sau phong bì có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Giang và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong là chất cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- 01 phong bì niêm phong bên trong chứa vỏ bao gói sau giám định, mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói sau giám định", mặt sau phong bì có chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong và đóng dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Giang; 01 phong bì đã mở niêm phong bên trong chứa vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ, vụ Nguyễn Mạnh C ngày 10/01/2024 là vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 10/01/2024.

Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 0,28 gam chất ma túy Methamphetamine ký hiệu A1 và 0,27 gam chất ma túy Methamphetamine ký hiệu A2 còn lại sau giám định được niêm phong trong một phong bì, mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn lại sau giám định, ký hiệu A1, A2”. Mặt sau phong bì có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Giang và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong.

+ 01 phong bì niêm phong bên trong chứa vỏ bao gói sau giám định, mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói sau giám định", mặt sau phong bì có chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong và đóng dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Giang;

+ 01 phong bì đã mở niêm phong bên trong chứa vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ, vụ Nguyễn Mạnh C ngày 10/01/2024.

Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Q, tỉnh Hà Giang ngày 06/5/2024.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố Tụng hình sự; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Ngoài ra, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình thi hành án có các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 7b Luật thi hành án dân sự.

Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ