- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Tuấn - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2024/HS-ST Ngày 28/02/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lý Thị Nhân và ông Vương Minh Tân
- Thư ký phiên tòa: Bà Phàn Thị Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang V - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 08/2024/TLST-HS, ngày 17 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Văn T, sinh ngày 04/11/1982 tại tỉnh Tuyên Quang.
Nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Tổ dân phố A, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang;
Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam;tôn giáo: không; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Văn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1955; vợ: Nông Thị C, sinh năm 1993 (đã ly hôn); con: có 01 con sinh năm 2012.
- Tiền án; tiền sự: Không
* Nhân thân: + Ngày 14/12/2000, bị Tòa án nhân dân thị xã Tuyên Quang (nay là Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang), tỉnh Tuyên Quang xử phạt 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích;
+ Ngày 19/3/2003, bị Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy;
+ Ngày 19/02/2013, bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính 3.500.000đ về hành vi Hủy hoại tài sản của người khác;
+ Ngày 19/9/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt 08 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (chấp hành xong bản án ngày 07/10/2019).
* Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/10/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại trại Tạm giam Công an tỉnh T. (có mặt tại điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh T)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn T, trú tại tổ dân phố A, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang là người sử dụng trái phép chất ma túy, loại ma túy T thường sử dụng là Heroine. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 04/10/2023, T đang ở nhà thì nảy sinh ý định sử dụng ma túy (Heroine). Do biết một người đàn ông tên K (không xác định họ, tên đệm, địa chỉ cụ thể) gần khu vực nhà thờ giáo xứ T1 thuộc tổ dân phố A, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang có bán ma túy (Heroine) nên T đi xe ôm từ nhà đến khu vực trên với mục đích tìm K để mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, T xuống xe rồi đi bộ tìm gặp và hỏi mua được của K 01 gói ma túy (Heroine) có đặc điểm được gói ngoài bằng giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, bên trong có chứa chất bột vón cục màu trắng với giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, T cầm gói ma túy ra khu vực vắng người gần nhà thờ giáo xứ T1 rồi lấy một phần ma túy trong gói ma túy vừa mua được ra và sử dụng bằng hình thức tiêm chích vào cơ thể. Sử dụng ma túy xong, T gói số ma túy còn lại như cũ rồi cầm trong lòng bàn tay trái và đi bộ về nhà. Khi T đi đến khu vực thuộc tổ dân phố C, phường T, thành phố T thì bị tổ công tác thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T hồi 12 giờ 05 phút cùng ngày. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ, niêm phong vật chứng và xét nghiệm tìm chất ma túy đối với T, kết quả (+) dương tính, có chất ma túy trong cơ thể.
Kết luận giám định số: 1323/KL - KTHS ngày 09/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là chất ma túy; loại Heroine (H); khối lượng 0,102g (không phẩy một không hai gam).
Từ nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 09/CT-VKSTP ngày 16 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 04/10/2023. Về xử lý vật chứng (tịch thu, tiêu hủy số heroin còn lại sau giám định). Tuyên án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho bị cáo Trần Văn T theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra, bị cáo Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục nhận tội, nội dung khai báo của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, không có tình tiết gì mới; bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng K1 - Công an tỉnh T; bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.
Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, từ chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ 05 phút ngày 04/10/2023, tại tổ dân phố C, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, Trần Văn T, trú tại tổ dân phố A, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,102g (không phẩy một không hai gam) Heroine, mục đích để sử dụng.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, mục đích để sử dụng cho nhu cầu nghiện ma túy của bản thân. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Văn T không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
. Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân thường gây ra các tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Bị cáo có nhân thân xấu đã bị Toà án xét xử tội phạm về tàng trữ và mua bán ma túy nhưng vẫn không cố gắng, không lấy đó là bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân. Vì vậy cần phải có mức hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo tại cơ sở giam giữ một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, khối lượng chất ma tuý mà bị cáo tàng trữ, cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để áp dụng đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, có căn cứ.
. Về vật chứng: Đối với khối lượng ma túy còn lại (sau khi giám định) đã thu giữ của bị cáo được niêm phong theo quy định đây là vật chứng của vụ án thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Văn T, Công an thành phố T đã xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định số 001624 ngày 03/11/2023, hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng.
Đối với người đàn ông theo T khai nhận tên K, là người bán Heroine cho T nhưng không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ điều tra xử lý.
. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 04/10/2023.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu huỷ 0,052g (Không phẩy không năm hai gam) chất ma tuý, loại heroine (số lượng còn lại sau giám định), được niêm phong trong một phong bì giấy còn nguyên vẹn, mặt trước ghi: “Tang vật vụ Trần Văn T giám định ngày 04/10/2023”, mặt sau tại các mép dán của phong bì niêm phong, có chữ ký của Trần Văn T cùng thành phần tham gia giám định và 05 (năm) hình dấu của Phòng K1 - Công an tỉnh T.
Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang ngày 17/01/2024).
3. Căn cứ khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Tuyên Quang;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- Công an tỉnh Tuyên Quang;
- Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND TP Tuyên Quang;
- Công an TP Tuyên Quang;
- Chi cục THA.DS TP. Tuyên Quang;
- Bị cáo;
- Hồ sơ vụ án hình sự + Lưu HS
Nguyễn Thị Thu Hà
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN
TOÀ
Lê Thị Thảo – Lý Thị Nhân
Nguyễn Thị Thu Hà
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - Công an tỉnh Tuyên Quang; - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang; - VKSND TP Tuyên Quang; - Công an TP Tuyên Quang; - Chi cục THA.DS TP. Tuyên Quang; - Bị cáo; - Hồ sơ vụ án hình sự + Lưu HS | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |