- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Văn B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Cao Văn B 05 (năm) năm tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 25/12/2023.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ơ Bản án số: 14/2024/HS-ST Ngày 27 - 02 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Hồ Đạt Nghiệm.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thịnh và ông Phạm Văn Tình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Lệ Giang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 07/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 02 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Cao Văn B (tên gọi khác: Không), Sinh ngày 08/04/2001; nơi sinh: Tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn B, xã S, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể: Không; con ông Cao Văn N (đã chết), con bà Vũ Thị H, sinh năm 1969; vợ, con: Chưa có;
Tiền án:
- Ngày 31/08/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu xử phạt 12 tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (chấp hành xong hình phạt ngày 30/04/2021);
- Ngày 13/01/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu xử phạt 30 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”(chấp hành xong hình phạt ngày 30/09/2023);
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An từ ngày 25/12/2023 đến nay; có mặt.
- Người chứng kiến: Bà Phan Thị T, sinh năm 1958; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng giữa tháng 10/2023, Cao Văn B đang đánh cá tại khu vực Biển Đ thì gặp một người đàn ông tên T1 (trú tại thành phố V, tỉnh Nghệ An) và hỏi xin số điện thoại để mua ma túy đá sử dụng. Người đàn ông tên T1 đã cho B số điện thoại của một người đàn ông tên T2 (trú tại xã Q, huyện Q). Đến khoảng 19 giờ ngày 25/12/2023, khi Cao Văn B uống bia với Lê Văn N1 (sinh năm 2001, trú tại thôn B, xã S, huyện Q) tại quán “Bia 69” (thuộc thôn A, xã S, huyện Q) có mượn điện thoại của Lê Văn N1 để gọi điện thoại cho người đàn ông tên T2 và hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá thì người đàn ông này đồng ý và hẹn địa điểm giao nhận ma túy tại Bãi cây dừa gần nhà văn hóa xã Q, huyện Q. Sau đó Cao Văn B đã xóa số điện thoại của người đàn ông tên T2, trả điện thoại cho N1 và đi đến xã Q. Khi B đi đến điểm hẹn thì gặp người đàn ông tên T2 và đưa cho T2 số tiền 500.000 đồng để mua ma túy, T2 đưa cho B một vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có chứa ma túy đá. Đến 20 giờ 10 phút cùng ngày, B đang đi vào quán “Bia 69” thì bị Tổ công tác Công an huyện Q phát hiện bắt quả tang; thu giữ của B 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có chứa 01 gói nilông màu trắng có chứa các hạt tinh thể màu trắng (nghi là ma túy đá).
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã thành lập Hội đồng mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, xác định: Các hạt tinh thể màu trắng (nghi là ma tú tổng hợp dạng đá) thu giữ của Cao Văn B có tổng khối lượng 0,63g (không phẩy sáu mươi ba gam). Cơ quan Điều tra lấy 0,18g (không phẩy mười tám gam) gửi đi giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 88/KL–KHHS (Đ2-MT) ngày 30/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu các hạt tinh thể màu trắng thu giữ của Cao Văn B gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine) có tổng khối lượng là 0,63g (không phẩy sáu mươi ba gam).
* Về vật chứng vụ án và xử lý vật chứng:
- 01 phong bì thu Bưu điện có chứa vỏ giấy niêm phong ban đầu và 0,45g (không phẩy bốn mươi lăm gam) ma túy ((Methamphetamine) còn lại sau khi lấy mẫu giám định; hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu chờ xử lý.
Cáo trạng số 16/CT-VKS-QL ngày 23/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố Cao Văn B, về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy", theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Quỳnh Lưu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng về tội danh và điều luật áp dụng và đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm o Khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 BLHS.
Xử phạt: Bị cáo Cao Văn B từ 5,5– 06 năm tù. Không phạt bổ sung bị cáo.
* Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thu Bưu điện có chứa vỏ giấy niêm phong ban đầu và 0,45g (không phẩy bốn mươi lăm gam) ma túy ((Methamphetamine) còn lại sau khi lấy mẫu giám định.
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2025; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Cao Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Cao Văn B khai nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng truy tố; không tranh luận gì về tội danh, mức hình phạt và các nội dung khác.
Lời nói sau cùng của bị cáo Cao Văn B: Bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Cao Văn B khai nhận: Vào hồi 22 giờ 10 phút ngày 25/12/2023, tại quán “Bia 69” (thuộc thôn A, xã S, huyện Q, tỉnh Nghệ An), Tổ công tác Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An đã phát hiện bắt quả tang bị cáo đang có hành vi tàng trữ phép 0,63g (không phẩy sáu mươi ba gam) chất ma túy (Methamphetamine), với mục đích để sử dụng.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai có tại hồ sơ vụ án; phù hợp các tài liệu có tại hồ sơ vụ án; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 20 giờ 10 phút ngày 25/12/2023 và phù hợp Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; kết luận giám định số 88/KL–KHHS (Đ2-MT) ngày 30/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu các hạt tinh thể màu trắng thu giữ của Cao Văn B gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine) có tổng khối lượng là 0,63g (không phẩy sáu mươi ba gam). Vì vậy, có căn cứ kết luận: Bị Cáo Cao Văn B đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,63g (không phẩy sáu mươi ba gam) chất ma túy (Methamphetamine), với mục đích để sử dụng. Khi thực hiện tội phạm, bị cáo có đủ khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình. Hành vi phạm tội của B đã cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và khung hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự, như Cáo trạng quy kết là có căn cứ, đúng pháp luật.
Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm sự độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội; ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự công cộng, gây bức xúc trong cộng đồng; là nguyên nhân làm phát sinh tệ nạn xã hội và nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo có 02 tiền án, tái phạm nguy hiểm: Ngày 31/08/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu xử phạt 12 tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (chấp hành xong hình phạt ngày 30/04/2021) và ngày 13/01/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu xử phạt 30 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”(chấp hành xong hình phạt ngày 30/09/2023). Bị cáo sau khi mãn hạn tù, đáng lẽ phải lo tu chí làm ăn để làm người lương thiện nhưng vì ham ăn chơi, đua đòi, nghiện ma túy mà tiếp tục phạm tội; thể hiện sự xem thường pháp luật. Do đó cần xử phạt bằng hình phạt tù, tương xứng với hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện. Cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung. Nhưng xét thấy, bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có tình tiết giảm nhẹ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, vì vậy xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước, như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, không có nghề nghiệp, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Đối với người đàn ông tên “Tám” (trú tại thành phố V, tỉnh Nghệ An) và người đàn ông tên “Tam” (trú tại xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An) là những người đã cho Cao Văn B số điện thoại liên lạc mua và bán ma túy cho bị cáo B; tuy nhiên không xác định rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ để xử lý.
Đối với Lê Văn N1 là người đã cho Cao Văn B mượn điện thoại liên lạc với người đàn ông tên “Tam” nhưng N1 không biết mục đích Cao Văn B liên lạc với người đàn ông này để mua ma túy nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Về vật chứng vụ án:
Ma túy là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thu Bưu điện có chứa vỏ giấy niêm phong ban đầu và 0,45g (không phẩy bốn mươi lăm gam) ma túy ((Methamphetamine) còn lại sau khi lấy mẫu giám định.
Về án phí: Bị cáo Cao Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Cao Văn B 05 (năm) năm tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 25/12/2023.
2. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thu Bưu điện có chứa vỏ giấy niêm phong ban đầu và 0,45g (không phẩy bốn mươi lăm gam) ma túy (Methamphetamine);(đặc điểm các vật chứng có tại Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an huyện Q với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Q, hồi 16 giờ 00 phút ngày 24/01/2024).
3.Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Cao Văn B phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND H. Quỳnh Lưu;
- CQĐT Công an H. Quỳnh Lưu;
- Cơ quan THAHSCA H. Quỳnh Lưu;
- Thi hành án hình sự;
- Chi cục THADS H. Quỳnh Lưu;
- VKSND tỉnh Nghệ An;
- TAND tỉnh Nghệ An;
- Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
Hồ Đạt Nghiệm
- UBND xã Sơn Hải (để biết);
- Lưu hồ sơ, VPTA.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
ơ Vũ Thị Thịnh Phạm Văn T3
Hồ Đạt Nghiệm Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND H. Quỳnh Lưu;
- CQĐT Công an H. Quỳnh Lưu;
- Cơ quan THAHSCA H. Quỳnh Lưu;
- Thi hành án hình sự;
- Chi cục THADS H. Quỳnh Lưu;
- VKSND tỉnh Nghệ An;
- TAND tỉnh Nghệ An;
- Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
- UBND xã Sơn Hải (để biết);
- Lưu hồ sơ, VPTA.
Hồ Đạt Nghiệm
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
ơ Vũ Thị T4
Phạm Văn Tình Hồ Đ Nghiệm
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND H. Quỳnh Lưu; - CQĐT Công an H. Quỳnh Lưu; - Cơ quan THAHSCA H. Quỳnh Lưu; - Thi hành án hình sự; - Chi cục THADS H. Quỳnh Lưu; - VKSND tỉnh Nghệ An; - TAND tỉnh Nghệ An; - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An; - UBND xã Sơn Hải (để biết); - Lưu hồ sơ, VPTA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Đạt Nghiệm |