- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào anh Đ tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tội danh, hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2024/HS-ST Ngày 01-3-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Xuân.
Ông Nguyễn Duy Toàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 3 năm 2024 tại Phòng xét xử số 02, trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2024/TLST-HS ngày 05/02/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HS ngày 16/02/2024, đối với bị cáo:
Đào Anh Đ (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 30/3/1990, tại huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú: Khu Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Đình S, sinh năm 1962 và bà Nông Thị H, sinh năm 1964; vợ Nguyễn Thị T, sinh năm 1996; có 01 con, sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2023 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 15/12/2023 do có nhu cầu sử dụng ma túy, Đào Anh Đ đã đi xe Taxi từ nhà tại khu Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn đến khu vực ngã tư thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang để tìm mua ma túy. Tại đây Đào Anh Đ đã gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói giấy bạc bên trong đựng chất cục bột màu trắng và 01 gói giấy bạc bên trong đựng 1/2 viên nén màu hồng với giá 350.000 đồng. Đào Anh Đ cất số ma túy vừa mua được vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi đi xe Taxi quay về, đến khoảng 12 giờ cùng ngày thì xuống xe đi vào đường ĐH 97 thuộc thôn V, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, tìm chỗ vắng người để sử dụng ma túy thì bị phát hiện, bắt quả tang và thu giữ: 01 gói giấy bạc bên trong đựng chất cục bột màu trắng, 01 gói giấy bạc bên trong đựng 1/2 viên nén màu hồng; 01 bật lửa ga màu đỏ.
Tại phiếu xét nghiệm ngày 15/12/2023, kết quả Đào Anh Đ dương tính với chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 94/KL-KTHS ngày 19/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: chất cục bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy Heroin, có khối lượng 0,298 gam; 1/2 viên nén màu hồng gửi giám định là chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,067 gam.
Tại bản Cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 05/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố Đào Anh Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự, tuyên bố Đào Anh Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; xử phạt bị cáo Đào Anh Đ từ 01 năm 01 tháng đến 01 năm 04 tháng tù; không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy chất ma túy và vỏ bao gói còn lại sau giám định, 01 bật lửa ga. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến đối đáp, tranh luận; lời nói sau cùng của bị cáo nhận thức hành vi sai trái pháp luật, thể hiện thái độ ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt ở mức thấp nhất cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hữu Lũng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng đã thực hiện là hợp pháp. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại đối với quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa, Đào Anh Đ đã tự thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như Bản cáo trạng đã truy tố; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, đồng thời hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Đảm bảo căn cứ xác định ngày 15/12/2023 bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ chất ma túy Heroin có khối lượng 0,298 gam và chất Methamphetamine có khối lượng 0,067 gam, cất giữ trong người nhằm mục đích để sử dụng, thỏa mãn nhu cầu bản thân.
Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý chất cấm của Nhà nước. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi, năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại nghiêm trọng của ma túy gây ảnh hưởng đến sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, tàn phá phẩm giá, nhân cách của con người và là nguyên nhân tiền đề làm phát sinh hàng loạt các loại tội phạm, tệ nạn xã hội khác, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Đảm bảo căn cứ kết luận Đào Anh Đ đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy với tổng khối lượng của 02 chất ma tuý 0,365gam là trong khoảng định lượng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
i, Có 02 chất ma tuý trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Để quyết định hình phạt, ngoài việc đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thì cần phải xem xét đến nhân thân và các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ để cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt, cụ thể:
Nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội, thể hiện thái độ ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo Đào Anh Đ thuộc trường hợp nguy hiểm, gây nguy hại cho xã hội; bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có 01 tình tiết giảm nhẹ. Chỉ vì nông nổi bị cáo đã bị rủ rê lệ thuộc sử dụng chất ma tuý trong khi điều kiện gia cảnh khó khăn, vợ chưa có công việc ổn định, đang nuôi con nhỏ chưa thành niên (sinh năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian ngắn nhất định, áp dụng hình phạt tù trên gần mức khởi điểm của khung hình phạt, đủ để bị cáo có thời gian tập trung cải tạo và tự rèn luyện tu dưỡng bản thân trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời đảm bảo mục đích của hình phạt nhằm răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung trong chính sách pháp luật của Nhà nước.
Hình phạt bổ sung: Tại Biên bản xác minh ngày 25/12/2023 của Công an huyện Hữu Lũng tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Hữu Lũng thể hiện bị cáo không có công việc, tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền do không khả thi trong công tác thi hành án.
Căn cứ quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số ma túy là vật cấm lưu hành và 01 bật lửa ga dùng để sử dụng chất ma tuý, không còn giá trị sử dụng.
Con người, sự việc liên quan: Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo; do không xác minh được thông tin cụ thể về nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý trong cùng vụ án.
Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Quan điểm đề nghị luận tội của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với các nhận định nêu trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đề nghị trong lời nói sau cùng của bị cáo đã được Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình nghị án và cân nhắc khi quyết định hình phạt. Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tội danh, hình phạt.
Tuyên bố bị cáo Đào Anh Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Đào Anh Đ 01 (một) năm 01 (một) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 15/12/2023.
2. Xử lý vật chứng.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong, trong đựng mẫu vật hoàn trả sau giám định, bên ngoài có chữ ký cùng tên của các thành phần tham gia niêm phong, của giám định viên, cán bộ giám định và hình dấu tròn đỏ của Công an xã Minh Sơn, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn.
- Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) bật lửa ga màu đỏ.
(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn và được mô tả chi tiết theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/02/2024).
3. Án phí.
Buộc bị cáo Đào Anh Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp Ngân sách nhà nước.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Hữu Lũng; - Công an huyện Hữu Lũng; - Cơ quan THAHS Công an H.Hữu Lũng; - Chi cục THADS huyện Hữu Lũng; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Mạnh Cường |