- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị Ánh Tr phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Phạm Thị Ánh Tr phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 100 Luật Thi hành án hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2024/HS-ST Ngày: 14-3-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO – TỈNH ĐĂK LĂK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lưu Văn Toan;
2. Ông Trần Tiến Dũng;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hằng Nga - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo tham gia phiên tòa: Ông Hồ Quang Phúc - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2024, tại Phòng xử án - Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08 /2024/TLST-HS, ngày 31 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HS, ngày 29 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo.
Họ và tên: Phạm Thị Ánh Tr, sinh năm 1974; tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn A, xã E, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Đình Ng (đã chết) và bà Huỳnh Thị L; Có chồng là Lương Văn S và 02 con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2003; Tiền sự: Không
Tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2021/HSST ngày 22/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo bị xử phạt 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng, về tội đánh bạc. Ngày 22/9/2023 bị cáo chấp hành xong thời gian thử thách, chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 10/12/2023 cho đến nay, có mặt;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Văn H, vắng mặt;
2. Ông Trần Văn Th, vắng mặt;
3. Ông Lê Tấn Q, vắng mặt;
4. Ông Ngô Minh H1, vắng mặt;
5. Bà Lê Thị Th1, vắng mặt;
Các đương sự cùng địa chỉ: Thôn A, xã E, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 31 tháng 10 năm 2023, Nguyễn Văn H, sinh năm 1974, trú tại: Khối H, thị trấn Phú Ph, huyện T, tỉnh Bình Định; Lê Tấn Q, sinh năm 1982; Trần Văn Th, sinh năm 1965 cùng trú tại: Thôn A, xã E, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk và một nam thanh niên làm nghề lái xe tải (không rõ nhân thân, lai lịch) ngồi uống nước tại quán của bà Lê Thị Th1, sinh năm 1974, ở thôn Thôn A, xã E, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk. Sau đó, nam thanh niên đi mua một bộ bài tú lơ khơ rồi rủ Hổ Q và Th đánh bạc bằng hình thức đánh bài mậu binh được thua bằng tiền thì tất cả đồng ý. Th, Hổ, Q và nam thanh niên sử dụng 01 cái bàn gỗ và 04 cái ghế nhựa tại quán của bà Th1 để đánh bạc. Đến khoảng 13 giờ 25 phút cùng ngày, nam thanh niên có việc nên bỏ đi về trước. Lúc này, Phạm Thị Ánh Tr đến và bỏ tiền ra tham gia đánh bạc cùng với H, Th và Q. Nguyễn Văn H bỏ ra số tiền 500.000 đồng, Lê Tấn Q bỏ ra số tiền 530.000 đồng, Trần Văn Th bỏ ra số tiền 940.000 đồng; Phạm Thị Ánh Tr bỏ ra số tiền 1.190.000 đồng. Tất cả cùng thống nhất hình thức đánh bạc như sau: Tr, Q, Th và H ngồi thành vòng tròn theo chiều kim đồng hồ, sử dụng bộ bài tù lơ khơ 52 quân để chơi. Sau khi trộn bài, người làm cái chia bài thành bốn phần cho bốn người chơi, mỗi người 13 quân bài. Người chơi sẽ sắp xếp 13 quân bài thành 03 chi (chi 01 gồm 03 quân bài, chi 02 gồm 5 quân bài, chi 03 gồm 5 quân bài). Các quân bài từ nhỏ đến lớn theo thứ tự 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K, A. Thứ tự bài lớn đến nhỏ như sau: “Mậu binh”, là bài lớn nhất (các bài mậu binh gồm: Thùng phá sảnh là chi 02, chi 03 gồm các quân bài đồng chất sắp xếp thành sảnh; tứ quý là chi 02 hoặc chi 03 có 04 quân bài giống nhau, ví dụ 9999; bài có 03 thùng là bài có 03 chi có quân bài đồng chất nhưng không sắp xếp thành sảnh; bài có 03 sảnh là bài có 03 chi sắp xếp thành sảnh nhưng không đồng chất; bài có 06 đôi). Bài lớn thứ hai là “Cù lủ”, là bài có chi 02 và 03 có 03 quân bài giống nhau và 01 đôi. Bài lớn thứ ba là “Thùng”, là bài có các quân bài đồng chất nhưng không sắp xếp thành sảnh. Bài lớn thứ tư là bài “Sảnh”, là các quân bài sắp xếp theo thứ tự từ nhỏ đến lớn thành một sảnh. Bài lớn thứ năm là bài “Xám”, là bài có chi 02, chi 03 có ba quân bài giống nhau và 02 quân bài lẻ. Bài lớn thứ sáu là bài “Thú”, là bài có chi 02, chi 03 có 02 đôi và 01 quân bài lẻ. Bài lớn thứ 7 là bài “Đôi”, là bài có 01 đôi và các quân bài lẻ. Cuối cùng là “Mậu thầu”, là bài có các quân bài lẻ không sắp xếp thành các trường hợp nêu trên. Sau khi sắp xếp các chi xong thì những người chơi sẽ úp xuống bàn chờ người làm cái lật bài, hoặc nói người chơi tự lật bài lên so sánh bài với nhau để tính thắng thua. Bốn người chơi thống nhất, không so từng chi mà so theo ván chơi, những người chơi có bài lớn nhất sẽ được người có bài nhỏ chung số tiền 20.000 đồng, không quy định tiền xâu. Đến khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày, trong lúc Phạm Thị Ánh Tr, Nguyễn Văn H, Lê Tấn Q và Trần Văn Th đang sát phạt thắng thua thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo phát hiện lập biên bản vụ việc. Thu giữ tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 3.160.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân đã qua sử dụng; 01 cái bàn gỗ kích thước 1,1m x 0,7m x 0,5m; 04 ghế nhựa màu đỏ cao 70cm.
Tại bản cáo trạng số: 09/CT-VKS, ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phần tranh luận, Kiểm sát viên đã đưa ra chứng cứ buộc tội và phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản cáo trạng số: 09/CT-VKS, ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ánh Tr phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Ánh Tr từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 3.160.000 đồng bị cáo và những người tham gia đánh bạc cùng bị cáo đã dùng vào mục đích phạm tội; Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân đã qua sử dụng; Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo đã trả lại 01 cái bàn, 04 cái ghế nhựa cho bà Lê Thị Th1 là chủ sở hữu hợp pháp.
Bị cáo không tranh luận gì với kết luận buộc tội và mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng:
. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ea H’Leo, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Song, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án mà không yêu cầu Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa để triệu tập người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến tham gia phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án, vì việc vắng mặt những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Hội đồng xét xử hội ý và quyết định tiếp tục phiên tòa.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được Cơ quan Điều tra Công an huyện Ea H’Leo thu thập lưu tại hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 31/10/2023, tại quán nước của bà Lê Thị Th1 (Bà Th1 thuê của bà Trần Thị T), ở Thôn A, xã E, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk, trong lúc bị cáo cùng với Nguyễn Văn H, Lê Tấn Q và Trần Văn Th đang thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền bằng hình thức đánh bài mậu binh thì bị Cơ quan Điều tra Công an huyện Ea H’Leo phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 3.160.000 đồng. Ngoài ra Cơ quan Điều tra Công an huyện còn thu giữ 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân đã qua sử dụng; 01 cái bàn gỗ và 04 cái ghế nhựa.
Hội đồng xét xử nhận thấy, số tiền của bị cáo và đồng bọn sử dụng vào mục đích phạm tội dưới 5.000.000 đồng. Song, ngày 22/9/2021 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk, xử phạt 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng, về tội đánh bạc, ngày 22/9/2023 bị cáo chấp hành xong thời gian thử thách, chưa được xóa án tích. Ngày 31/10/2023 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Tại Điều luật nêu trên quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính một cách trái pháp luật mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật; song do ý thức coi thường pháp luật, muốn có tiền bất chính, bị cáo đã cố ý thực hiện. Vì vậy, cần buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình, cần áp dụng đối với bị cáo mức hình phạt tương xứng, nhằm trừng trị người phạm tội, đồng thời để bị cáo có thời gian cải tạo, rèn luyện mình trở thành người công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, mặt khác phát huy tác dụng, răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.
[3.]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng tách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Điều kiện gia đình bị cáo đang gặp khó khăn, bị cáo không có thu nhập ổn định. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt:
Nhận thấy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Vì vậy, không cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội, mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo cũng đủ tác dụng trừng trị, giáo dục bị cáo; đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo có thời gian cải tạo, lao động giúp đỡ gia đình và rèn luyện mình trở thành người công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Xét thấy, điều kiện gia đình bị cáo đang gặp khó khăn, bị cáo có thu nhập thấp, không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
. Các biện pháp tư pháp:
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 3.160.000 đồng bị cáo và những người tham gia đánh bạc cùng bị cáo đã dùng vào mục đích phạm tội; Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52; Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản 01 bàn, 04 ghế nhựa cho bà Thu là chủ sở hữu hợp pháp.
(Đặc điểm vật chứng được mô tả tại Biên bản thu giữ vật chứng lưu tại hồ sơ vụ án).
. Về các nội dung khác:
Đối với Nguyễn Văn H, Lê Tấn Q và Trần Văn Th có hành vi đánh bạc vào ngày 31/10/2023, tuy nhiên hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, nên Cơ quan Điều tra Công an huyện Ea H’Leo đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Phạt tiền.
Đối với người thanh niên làm nghề lái xe tải tham gia đánh bạc vào ngày 31/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý.
Đối với quán nước bị cáo cùng Nguyễn Văn H, Lê Tấn Q và Trần Văn Th sử dụng để đánh bạc là tài sản của bà Trần Thị T, bà T cho bà Lê Thị Th1 thuê lại. Việc H, Q, Th và bị cáo sử dụng để đánh bạc bà T và bà Th1 không biết, nên Cơ quan Điều tra Công an huyện Ea H’Leo không xử lý.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Phạm Thị Ánh Tr phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Phạm Thị Ánh Tr 12 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Phạm Thị Ánh Tr tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được quyết định thi hành bản án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Phạm Thị Ánh Tr cho UBND xã E, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo Phạm Thị Ánh Tr có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Trường hợp người chấp hành án cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú được áp dụng theo Điều 100 Luật thi hành án hình sự.
Các biện pháp tư pháp:
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 3.160.000 đồng bị cáo và những người tham gia đánh bạc cùng bị cáo đã dùng vào mục đích phạm tội; Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ; Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo đã trả lại 01 cái bàn, 04 cái ghế nhựa cho bà Lê Thị Th1 là chủ sở hữu hợp pháp.
(Đặc điểm vật chứng được mô tả tại biên bản thu giữ vật chứng lưu tại hồ sơ vụ án).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo Phạm Thị Ánh Tr phải chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án kể từ khi nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Ea H’Leo; - Chi cục THADS huyện EH;; - Công an huyện Ea H’Leo; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ - UBND xã E; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ, VP | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Phượng |