- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lã Hồng Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lã Hồng Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2024/HS-ST Ngày 17-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Duyện
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Chu Thị Hậu
Ông Nguyễn Hoàng Anh.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Quỳnh Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Vy Tiến Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 134/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Lã Hồng Đ (tên gọi khác: Không), sinh ngày 02 tháng 9 năm 1973 tại: Huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú: Số A, tổ A, khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lã Trung H (đã chết) và con bà: bà Lìu Sáy G (đã chết); vợ: Nguyễn Thúy V; con: Có 04 con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 55/2013/HSPT ngày 04/4/2013 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt bị cáo Lã Hồng Đ 15 năm tù về tội Vận chuyển hàng cấm, phạt bổ sung 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng), bị cáo Lã Hồng Đ đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, tiền án phí hình sự sơ thẩm, án phí hình sự phúc thẩm và ngày 13/10/2017 được Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương ra Quyết định Miễn hình phạt tù số 54/2017/QĐ-CA ngày 13/10/2017 miễn chấp hành hình phạt tù còn lại cho người bị kết án Lã Hồng Đ. Bị cáo bị tạm giữ ngày 04/10/2023, tạm giam từ ngày 11/10/2023 đến nay; có mặt.
Người chứng kiến: Ông Lương T; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22 giờ 30 phút ngày 04/10/2023 Công an thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn làm nhiệm vụ tại khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn phát hiện Lã Hồng Đ, sinh năm 1973, trú tại số A, tổ A, khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn có biểu hiện nghi vấn hoạt động tội phạm nên tổ công tác đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện Lã Hồng Đ thả từ trên tay xuống đất 01 (một) gói nilon bên trong có 01 (một) viên nén màu hồng và chất tinh thể màu trắng. Lã Hồng Đ khai nhận đó là ma túy tổng hợp, bản thân vừa mua với một người đàn ông khoảng hơn 50 tuổi đi xe máy (không rõ tên và địa chỉ) ở khu vực đầu cầu mới thuộc khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) về để sử dụng cho bản thân. Xác định có dấu hiệu của tội phạm nên tổ công tác đã đưa Lã Hồng Đ cùng tang vật về trụ sở Công an thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn để lập biên bản, thu giữ vật chứng và lấy lời khai làm rõ.
Tại Kết luận giám định số 1022/KL-KTHS ngày 10/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Viên nén màu hồng gửi giám định là chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,101 gam (đã trừ bì); Chất tinh thể màu trắng gửi giám định là chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,100 gam (đã trừ bì). Tổng khối lượng 0,201 gam chất ma tuý Methamphetamine (đã trừ bì).
Tại Cơ quan điều tra, Lã Hồng Đ khai nhận bản thân nghiện chất ma túy tổng hợp Methamphetamine dạng “đá ngựa” từ khoảng đầu năm 2023 cho đến khi bị bắt. Do có nhu cầu sử dụng chất ma tuý nên khoảng 22 giờ 15 phút ngày 04/10/2023 Lã Hồng Đ đi bộ từ nhà ra khu vực đầu cầu mới tại khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn tìm mua ma túy về sử dụng thì gặp một người đàn ông khoảng 50 tuổi hành nghề lái xe ôm (không rõ tên và địa chỉ). Tại đây Lã Hồng Đ hỏi mua 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) ma túy thì người này bán cho Lã Hồng Đ 01 (một) gói nilon bên trong có 01 (một) viên nén màu hồng và chất tinh thể màu trắng là chất ma tuý Methamphetamine. Sau khi mua được chất ma túy, Lã Hồng Đ cầm trên tay đi bộ về nhà để sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang như trên.
Đối với người đàn ông đã bán chất ma túy cho Lã Hồng Đ ở khu vực gần cầu M thuộc khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn ngày 04/10/2023, do Lã Hồng Đ không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh, làm rõ để xử lý trong vụ án.
Vật chứng đã được chuyển đến Chi Cục thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số: 03/CT-VKS ngày 06/12/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Lã Hồng Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lã Hồng Đ như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lã Hồng Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lã Hồng Đ từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù giam.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, không có tài sản gì có giá trị, là người nghiện ma túy, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy đã qua giám định còn lại là 0,177 gam Mathamphetamine được đựng trong 01 (một) phong bì ghi chữ "Tang vật thu giữ của Lã Hồng Đ" (cũ), có chữ ký cùng tên của Giám định viên Hoàng Mạnh H1, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng K tại phần giáp lai mới là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành.
Về án phí: Buộc bị cáo Lã Hồng Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo nhất trí với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì.
Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày: Bị cáo đã biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật và rất hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo phù hợp với các chứng cứ khác và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Đối với người chứng kiến ông Lương T vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vì trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của họ. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người chứng kiến theo quy định tại khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo Lã Hồng Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ xác định: Hồi 22 giờ 30 phút, ngày 04/10/2023 tổ công tác Công an thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn làm nhiệm vụ tại khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn phát hiện và bắt quả tang bị cáo Lã Hồng Đ có hành vi tàng trữ 01 (một) gói nilon trong suốt bên trong có chứa 01 (một) viên nén màu hồng và chất tinh thể màu trắng là chất ma tuý Methamphetamine có tổng khối lượng 0,201 gam (đã trừ bì). Số ma túy này, bị cáo Lã Hồng Đ tàng trữ nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lã Hồng Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Xét về hành vi phạm tội: Bị cáo Lã Hồng Đ có đầy đủ năng lực hành vi, tuổi chịu trách nhiệm hình sự, do vậy bị cáo Lã Hồng Đ có đủ khả năng để nhận thức việc tàng trữ trái phép chất ma túy là trái với quy định của pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo Lã Hồng Đ thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng, việc tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, gây tác hại xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, do đó cần phải có mức hình phạt tương xứng đủ sức răn đe đối với bị cáo. Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Lã Hồng Đ ra trước Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn theo tội danh và điều khoản trong Bộ luật Hình sự như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Để có căn cứ quyết định hình phạt đối với bị cáo, ngoài việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, qua đó ấn định mức hình phạt phù hợp đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lã Hồng Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lã Hồng Đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo Lã Hồng Đ đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xác định nhân thân xấu.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo Lã Hồng Đ ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ mới đảm bảo tính nghiêm minh, răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo biên bản xác minh có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa thể hiện bị cáo nghề nghiệp lao động tự do thu nhập không ổn định, không có tài sản có giá trị, là người nghiện ma túy, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy đã qua giám định còn lại là 0,177 gam Mathamphetamine được đựng trong 01 (một) phong bì ghi chữ "Tang vật thu giữ của Lã Hồng Đ" (cũ), có chữ ký cùng tên của Giám định viên Hoàng Mạnh H1, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng K tại phần giáp lai mới là vật nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người đàn ông đã bán chất ma túy cho bị cáo Lã Hồng Đ ở khu vực gần cầu M thuộc khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn ngày 04/10/2023, do bị cáo Lã Hồng Đ không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này, nên Cơ quan điều tra không có đủ cơ sở để xác minh làm rõ, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa về tội danh, hình phạt và các nội dung khác phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Lã Hồng Đ bị kết án, do đó phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ khoản 1 Điều 293; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lã Hồng Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lã Hồng Đ 02 (hai) năm tù giam, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 04/10/2023.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy đã qua giám định còn lại là 0,177 gam Mathamphetamine được đựng trong 01 (một) phong bì ghi chữ "Tang vật thu giữ của Lã Hồng Đ" (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh H1, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng K tại phần giáp lai mới.
(Vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn và được ghi chi tiết tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/12/2023).
4. Về án phí: Bị cáo Lã Hồng Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lã Hồng Đ có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn; - Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn; - Đội TH Công an H. Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn; - Chi cục THADS H. Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Thị Duyện |