vanban.org

Bản án 14/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bến Lức, tỉnh Long An Tuyên án 05/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T1 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/10/2023. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/HS-ST
Ngày: 05-3-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Dương Thị Sáu

Bà Nguyễn Thị Hưởng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vũ – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2024/HSST ngày 23 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh T1, tên gọi khác: Không, sinh ngày 28/5/1990 tại Long An. Nơi ĐKTT: Ấp 7, xã N, huyện T, tỉnh Long An. Chỗ ở: Ấp 1, xã N, huyện B, tỉnh Long An. Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Công L1 (đã chết) và bà Võ Thị Mai L2, vợ Ngô Đào Yến N (đã ly hôn). Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/10/2023 đến ngày 19/10/2023 chuyển tạm giam cho đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an huyện B (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty Cổ phần tập đoàn vận tải S

Địa chỉ: Số 782A, Quốc lộ 51, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tuấn M1 – Chức vụ: Tổng Giám đốc

Người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Tuấn M1: Ông Mai Viết M2 – Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Long An

Địa chỉ: Tổ 6, khu phố 4, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

2. Võ Thành T2, sinh năm 1981;

Địa chỉ: Ấp 6, xã Thạnh Đức, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt).

- Người chứng kiến:

1. Nguyễn Trí D, sinh năm 1985;

Địa chỉ: Ấp 3A, xã P, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt).

2. Trần Hồng Châu Nhật T3, sinh năm 1994;

Địa chỉ: Ấp 3A, xã P, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 11/10/2023, Nguyễn Minh T1 là đối tượng nghiện ma túy, khi đang chạy xe taxi biển số 60E-009.17 ở khu vực Công viên Gò Đen thuộc xã P, huyện B, T1 muốn sử dụng ma túy nên chạy đến khu vực Ngã 3 đường rẽ vào chợ mới Gò Đen thuộc Ấp 5, xã P gặp người thanh niên (chưa rõ lai lịch) mua 05 gói nylon có rãnh khép chứa ma túy Khay được đựng trong vỏ thuốc hiệu JET với giá 1.700.000đ. Sau khi nhận ma tuý và trả tiền thì người thanh niên điều khiển xe rời đi, còn T1 lấy vỏ gói thuốc JET chứa 05 gói ma tuý để trên ghế phía trước, bên phải của xe ôtô rồi điều khiển xe chạy về nhà. Khi T1 chuẩn bị chạy đi thì bị lực lượng công an xã P tuần tra, kiểm tra phát hiện, bắt quả tang thu giữ: 01 vỏ gói thuốc JET bên trong có 05 gói nylon có rảnh khép chứa tinh thể màu trắng (được lực lượng công an niêm phong); 01 điện thoại Iphone X đã bể mặt kính phía sau; 01 xe ôtô biển số 60E-009.17.

Tại Kết luận giám định số 1070/KL-KTHS ngày 19/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An, kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 05 túi nylon có rãnh khép, được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 9,4660 gam, loại: Ketamine; Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 8,3821 gam và vỏ bao đựng mẫu được niêm phong.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh T1 hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận giám định, đồng thời không khiếu nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Tại bản Cáo trạng số 11/CT-VKSBL ngày 22/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố bị cáo Nguyễn Minh T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên toà vẫn giữ y quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Minh T1 và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị xử lý các vật chứng như sau:

Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 8,3821 gam và vỏ bao đựng mẫu được niêm phong.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone X (Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện B đang tạm giữ).

Đối với xe ôtô biển số 60E-009.17, thuộc sở hữu của Công ty cổ phần tập đoàn vận tải S, bi cáo T1 sử dụng xe ôtô trên đi mua ma túy, Công ty cổ phần tập đoàn vận tải S hoàn toàn không biết. Cơ quan CSĐT đã trả lại xe ôtô biển số 60E-009.17 cho đại diện Công ty cổ phần tập đoàn vận tải S xong không đề nghị xem xét.

Đối với người bán ma túy cho Nguyễn Minh T1, qua làm việc bị cáo không cung cấp được tên và địa chỉ cụ thể, tài khoản Cu Cu không còn nên Cơ quan CSĐT tiếp tục xác minh để xử lý theo quy định.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra và việc vắng mặt những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung:

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Minh T1 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang vào lúc 23 giờ 10 phút ngày 11 tháng 10 năm 2023, phù hợp bản ảnh hiện trường cùng với bản Kết luận giám định số 1070/KL-KTHS ngày 19/10/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Long An và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: Bị cáo Nguyễn Minh T1 là người nghiện ma túy nên vào khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 11/10/2023, Nguyễn Minh T1 do cần ma tuý sử dụng nên điều khiển xe ôtô taxi biển số 60E-009.17 đến khu vực gần ngã 3 đường rẽ vào chợ mới Gò Đen trên đường tỉnh 835 thuộc Ấp 5, xã P mua 05 (năm) gói ma tuý loại: Ketamine, trọng lượng 9,4660 gam thì bị công an xã P bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh T1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố bị cáo Nguyễn Minh T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hậu quả nghiêm trọng của ma túy đối với xã hội và bản thân bị cáo. Hành vi trái pháp luật của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo cũng thừa biết ma tuý là chất độc hại, gây nghiện làm tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần và thể chất con người nên Nhà nước thống nhất quản lý và nghiêm cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng vì muốn thỏa mãn cơn nghiện nên bị cáo mua ma túy về cất giấu trái phép, mục đích để sử dụng, chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, xâm phạm đến sức khoẻ và sự phát triển nòi giống của dân tộc, là tác nhân gây ra bệnh HIV, gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Do đó cần áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Minh T1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Minh T1 có nhân thân tốt không có tiền án, tiền sự. Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Minh T1 là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì hành vi phạm tội bị cáo Nguyễn Minh T1 còn có thể bị phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo trình bày không có công việc ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Minh T1.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 8,3821 gam và vỏ bao đựng mẫu được niêm phong.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone X mà bị cáo sử dụng liên lạc mua ma túy.

- Đối với xe ôtô biển số 60E-009.17, thuộc sở hữu của Công ty cổ phần tập đoàn vận tải S, việc T1 sử dụng xe ôtô trên đi mua ma túy, Công ty cổ phần tập đoàn vận tải S hoàn toàn không biết. Cơ quan CSĐT đã trả lại xe ôtô biển số 60E-009.17 cho đại diện Công ty cổ phần tập đoàn vận tải S xong nên không đề cập xem xét.

Đối với người bán ma túy cho Nguyễn Minh T1, qua làm việc bị cáo không cung cấp được tên và địa chỉ cụ thể, tài khoản Cu Cu không còn nên Cơ quan CSĐT tiếp tục xác minh để xử lý theo quy định nên không đề cập xem xét

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Minh T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T1 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/10/2023.

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Minh T1 trong thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (05/03/2024) để đảm bảo việc thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 8,3821 gam và vỏ bao đựng mẫu được niêm phong số 1070.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone X đã bể mặt phía sau.

(Vật chứng nêu trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện B đang tạm giữ theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 23/01/2024).

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Nguyễn Minh T1 nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.

4. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết.

Cỡ chữ