vanban.org

Bản án 14/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre Tuyên án 12/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Nguyễn Học V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Nguyễn Học V 01 (một) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Nguyễn Học V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Nguyễn Học V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA TRI
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:14/2024/HS-ST
Ngày: 12-3-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Tấn Tài.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Công Trung

2. Ông Nguyễn V Hớn

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Ngọc Huỳnh Như - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh V Thạo - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Ba Tri tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXXST-HS ngày 15/02/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2024/HSST-QĐ ngày 28/02/2024 đối với bị cáo:

Lê Nguyễn Học V, sinh ngày 23/02/2001; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: Số 307/AB2 ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Không; Trình độ V hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê V T (chết) và bà Nguyễn Thị T; Vợ, con: Chưa có; Có 01 chị sinh năm 1995; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 10/02/2023 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (đã nộp phạt). Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/11/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị T, sinh năm 1970, (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 307/AB2, ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

- Người chứng kiến:

1. Đỗ Phương N, sinh năm 1983, (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

2. Võ V V, sinh năm 1962, (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Nguyễn Học V - sinh ngày 23/02/2001 ngụ số 307/AB2, ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 08/11/2023, tại quán nước Sơn Trà ở xã V, huyện B, Lê Nguyễn Học V gặp người bạn tên “H” (không rõ nhân thân, lai lịch) và được “H” cho 01 túi nylon chứa ma túy cùng 01 cái nỏ, 01 quẹt ga và 01 nắp chai có gắn ống nhựa rồi V đem túi ma túy cùng các dụng cụ về nhà cất giấu. Đến khoảng 20 giờ 25 phút ngày 09/11/2023, V lấy túi ma túy cùng các dụng cụ đem theo trên người và điều khiển xe mô tô biển số 71C2-354.06 (xe thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị Thanh là mẹ ruột V) trên đường xã An Hòa Tây, huyện Ba Tri. Khi V điều khiển xe mô tô đến khu vực Tổ nhân dân tự quản số 11 thuộc ấp A, xã A, huyện B thì bị lực lượng tuần tra Công an xã A phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ, gồm:

- 01 túi nylon màu trắng có kích thước 2,5cm x 2,5cm được hàn kín ba cạnh, cạnh còn lại có rãnh khép màu trắng, bên cạnh rãnh khép có đường viền màu xanh, bên trong chứa nhiều chất tinh thể màu trắng thu trong túi quần phía trước bên trái của Lê Nguyễn Học V đang mặc được niêm phong trong phong bì ký hiệu T01; chưa xử lý.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen thu trong túi quần phía trước bên trái của Lê Nguyễn Học V đang mặc được niêm phong trong phong bì ký hiệu T02; chưa xử lý.

- 01 nỏ thủy tinh, 01 nắp chai nhựa màu đen được khoét 02 lỗ, 01 lỗ có gắn 01 ống hút nhựa màu xanh, 01 quẹt ga màu xanh thu trong túi quần phía trước bên phải của Lê Nguyễn Học V đang mặc được niêm phong trong phong bì ký hiệu T03; chưa xử lý.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu vàng nâu, biển số 71C2-354.06; Cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sở hữu Nguyễn Thị T.

Tại Bản kết luận giám định số 853/2023/KL-KTHS ngày 13/11/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nylon được niêm phong trong phong bì ký hiệu T01 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,4872 gam. Hoàn lại mẫu vật ký hiệu T01 sau giám định đã được niêm phong có khối lượng là 0,4342 gam.

Tại Bản Cáo trạng số: 08/CT-VKSBT ngày 04/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri truy tố bị cáo Lê Nguyễn Học V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Lê Nguyễn Học V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị:

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự, đề nghị:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ Số ma túy sau giám định có khối lượng 0,4342 gam và vỏ bao gói chứa ma túy được niêm phong trong phong bì số 853/2023 được niêm phong bằng chữ kí tên và viết họ tên của Phan Trung Trực, Trần Thanh Phong và Nguyễn Thành Trung đồng thời có đóng dấu hình tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre là vật cấm tàng trữ lưu hành.

+ 01 (một) nỏ thủy tinh, 01 (một) nắp chai nhựa màu đen được khoét 02 (hai) lỗ, 01 (một) lỗ có gắn 01 (một) ống hút nhựa màu xanh, 01 (một) quẹt ga màu xanh được niêm phong trong phong bì ký hiệu T03 trên phong bì có chữ ký tên và viết họ tên của Nguyễn Thành Trung, Phan Chí Linh, Đỗ Phương Nam, Võ V Việt, Lê Nguyễn Học V đồng thời có đóng dấu tròn màu đỏ của Công an xã An Hòa Tây, huyện Ba Tri, đây là công cụ dùng để sử dụng ma túy.

- Trả cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen được niêm phong trong phong bì, trên phong bì có chữ ký ghi họ tên của Nguyễn Thành Trung, Lê Nguyễn Học V, Nguyễn V Luân và dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện Ba Tri do đây là tài sản của Lê Nguyễn Học V và không liên quan đến việc phạm tội.

- Ghi nhận việc CQĐT đã trao trả 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Future màu vàng nâu, biển số 71C2-354.06 cho bà Nguyễn Thị T do xe thuộc sở hữu của bà Thanh và không liên quan đến việc phạm tội.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Nguyễn Học V đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đã thực hiện như nội dung Cáo trạng đã nêu. Bị cáo xin nhận lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen của bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị T đã nhận lại xe mô tô biển số 71C2-354.06 và không có yêu cầu gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị T và những người chứng kiến Đỗ Phương , Võ V V vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, những người này đã có lời khai rõ trong quá trình điều tra vụ án. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Vì vậy, Căn cứ vào các điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên trong vụ án.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Tri, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, lời khai nhận của bị cáo Lê Nguyễn Học V là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng là ma túy đã thu giữ trong quá trình bắt người phạm tội quả tang cùng những tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Đã đủ cơ sở xác định: Do nghiện ma túy, nên Lê Nguyễn Học V đã có hành vi cất giữ trái phép 0,4872 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang vào khoảng 20 giờ 25 phút ngày 09/11/2023 tại ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo Lê Nguyễn Học V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Khi thực hiện hành vi, bị cáo là người đã trưởng thành, đủ tuổi và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp và cố ý thực hiện. Vì vậy, bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra. Bản thân bị cáo từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không thể từ bỏ ma túy mà vẫn tiếp tục có hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng. Do đó, HĐXX xét thấy cần xử lý bị cáo bằng hình phạt tù giam để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo nhằm giúp bị cáo từ bỏ chất ma túy để trở thành người tốt, có ích cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, phòng ngừa chung trước thực trạng tệ nạn ma túy đang ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp trên địa bàn huyện nhà.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo HĐXX thấy rằng: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có người thân là người có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật nên được HĐXX chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

+ Đối với Số ma túy sau giám định có khối lượng 0,4342 gam, đây là vật cấm tàng trữ lưu hành nên sẽ bị tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 01 (một) nỏ thủy tinh, 01 nắp chai nhựa màu đen được khoét 02 lỗ, 01 lỗ có gắn 01 ống hút nhựa màu xanh, 01 quẹt ga màu xanh, đây là công cụ dùng để sử dụng ma túy nên sẽ bị tịch thu tiêu hủy theo quy định pháp luật.

+ Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen, do đây là tài sản của bị cáo và không liên quan đến việc phạm tội nên HĐXX trả cho bị cáo.

+ Cơ quan điều tra đã trao trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu vàng nâu, biển số 71C2-354.06 cho bà Nguyễn Thị Thanh do xe thuộc sở hữu của bà Thanh và không liên quan đến việc phạm tội là phù hợp với quy định pháp luật nên được HĐXX ghi nhận.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Nguyễn Học V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Lê Nguyễn Học V 01 (một) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy sau giám định có khối lượng 0,4342 gam và vỏ bao gói chứa ma túy được niêm phong trong phong bì số 853/2023; 01 nỏ thủy tinh, 01 nắp chai nhựa màu đen được khoét 02 lỗ, 01 lỗ có gắn 01 ống hút nhựa màu xanh, 01 quẹt ga màu xanh được niêm phong trong phong bì ký hiệu T03.

+ Trả cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen được niêm phong trong phong bì, trên phong bì có chữ ký ghi họ tên của Nguyễn Thành Trung, Lê Nguyễn Học V, Nguyễn V Luân và dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện Ba Tri.

(Theo phiếu nhập kho số NKTV.13 ngày 08/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14;

Buộc bị cáo Lê Nguyễn Học V phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt theo quy định pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. * Nơi nhận:

Cỡ chữ