vanban.org

Bản án 14/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Bình Tuyên án 23/03/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/03/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Án phí hình sự phúc thẩm: Xử buộc bị cáo Hoàng Thị Ngọc A phải chịu 200.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, ngày 23/3/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thị Ngọc A - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Án phí hình sự phúc thẩm: Xử buộc bị cáo Hoàng Thị Ngọc A phải chịu 200.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/HS-PT
Ngày: 23-3-2024

NHÂN DA

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Từ Thị Hải Dương

Các Thẩm phá n: Ông Nguyễn Văn Nghĩa; ông Nguyễn Xuân Diệu

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Minh Quân - Thư ký Tòa án nhân dân tinh̉ Quảng Bình;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tinh Quảng Binh tham gia phiên tòa :

̉

̀ Bà Nguyễn Thị Bích Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo Hoàng Thị Ngọc A, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 126/2023/HS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.

- Bị cáo kháng cáo: Hoàng Thị Ngọc A, sinh ngày 26/11/1998 tại Quảng Bình. Tên gọi khác: Không; giới tính: Nữ; nơi đăng ký HKTT: Tổ dân phố m, thị trấn L, huyện L, tỉnh Quảng Bình; chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố T, thị trấn V, huyện B, tỉnh Quảng Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Hoàng Văn Kh, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1968; Anh chị em ruột: Có 02 người, Ngọc A là con thứ hai trong gia đình; Chồng: Bùi Văn T, sinh năm 1991 và có 01 người con sinh năm 2020;

Tiền án tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/8/2023, theo lệnh trích xuất, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra trong vụ án này còn có một số người tham gia tố tụng khác nhưng không liên quan đến việc kháng cáo nên Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 22/8/2023, tại khu vực trước Trường tiểu học số 1 Bắc Lý thuộc tổ dân phố 12, phường Bắc Lý, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Đ phối hợp Công an phường Bắc Lý phát hiện, bắt quả tang Phạm Văn H đang cầm ở tay 01 túi nilon bên trong chứa 44 viên nén hình tròn màu hồng. Hoàng khai nhận 44 viên nén trên là ma túy loại hồng phiến do H mua của Hoàng Thị Ngọc A với giá 2.000.000 đồng vào khoảng 19 giờ cùng cùng ngày, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Quá trình điều tra Hoàng Thị Ngọc A khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 22/8/2023, thông qua mạng xã hội Telegram, Phạm Văn H liên lạc với A hỏi mua ma túy loại hồng phiến với giá 2.000.000 đồng, H sẽ trả tiền sau. A đồng ý bán cho H 44 viên ma túy loại hồng phiến. Đến khoảng 19 cùng ngày, A gặp H tại khu vực Khu công nghiệp Tây Bắc, thuộc phường Bắc Lý và giao ma túy cho Hoàng.

Về nguồn gốc số ma túy trên, A khai nhận: Sau khi Phạm Văn H hỏi mua ma túy, A liên lạc qua mạng xã hội Telegram với một tài khoản tự xưng “Lang”, không rõ lý lịch để hỏi mua 44 viên ma túy loại hồng phiến, tiền sẽ trả sau, thì được “Lang” đồng ý bán với giá 1.800.000 đồng và hẹn giao ma túy ở khu vực bãi đất trống ở thị trấn Nông trường Việt Trung, huyện Bố Trạch. Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 22/8/2023 theo sự hướng dẫn của “Lang”, A đến địa điểm trên nhận lấy ma túy, rồi đi đến khu vực Khu công nghiệp Tây Bắc bán cho Phạm Văn H để kiếm lời.

Tại Kết luận giám định số 854/KL-KTHS ngày 30/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: Mẫu ký hiệu A gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 4,189 gam.

Bản án số 126/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình quyết định tuyên bố bị cáo Hoàng Thị Ngọc A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng khoản 1 Điều 251;điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Thị Ngọc A 03 (ba) năm tù. Áp dụng khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn H 02 (hai) năm tù.

Ngoài ra bản án còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 08/01/2024, bị cáo Hoàng Thị Ngọc A có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Thị Ngọc A thừa nhận hành vi phạm tội, giữ nguyên nội dung kháng cáo và xuất trình thêm tài liệu chứng minh bà Trần Thị Ch là bà ngoại của bị cáo được nhà nước tặng huân chương kháng chiến hạng ba.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, áp dụng thêm tình tiết khoản 2 Điều 51 BLHS không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị Ngọc A, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tội dA: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Thị Ngọc A khai nhận đã có hành vi mua ma tuý của một người tự xưng là “Lang” và về bán lại cho Phạm Văn Hoàng, mục đích để kiếm lời. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hành vi trên của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Bản án hình sự sơ thẩm số 126/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới xét xử đối với bị cáo là có căn cứ.

. Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định của nhà nước trong lĩnh vực quản lý, kiểm soát các chất ma tuý. Trên cơ sở xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự), án sơ thẩm đã xét xử bị cáo với mức hình phạt 03 (ba) năm tù là thoả đáng. Tại phiên toà phúc thẩm, mặc dù bị cáo có xuất trình thêm tình tiết bà ngoại của bị cáo được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS nhưng không có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới.

. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Hoàng Thị Ngọc A phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị Ngọc A, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 126/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.

Áp dụng điểm khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Thị Ngọc A 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 23/8/2023.

2. Án phí hình sự phúc thẩm: Xử buộc bị cáo Hoàng Thị Ngọc A phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, ngày 23/3/2024.

Cỡ chữ