vanban.org

Bản án 14/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị bảo Yến-Trần Di Phương"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 13-3-2024
V/v “Tranh chấp hôn nhân và
gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Hận

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Việt Bắc

Ông Dương Đức Tính.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Như Ý, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

Ngày 13 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 16/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bảo Y, sinh năm 1997 (xin vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Trần Di P, sinh năm 1996 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp 2, xã Khánh Tiến, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình tham gia tố tụng và tại bản tự khai ngày 04/3/2024 nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bảo Y trình bày: Năm 2015 chị và anh Trần Di P tự nguyện chung sống với nhau, đến ngày 04/4/2017 đăng ký kết hôn theo quy định. Trong thời gian chung sống, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, anh P không quan tâm đến gia đình, nên vợ chồng đã sống ly thân hơn 02 tháng nay. Nay chị nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh P; Về con chung, có 02 người con chung tên Trần Nguyễn Phương Vy, sinh ngày 25/10/2016 và Trần Yến Vy, sinh ngày 26/7/2018, hiện nay chị đang nuôi con. Khi ly hôn nếu người con tên Trần Nguyễn Phương Vy có nguyện vọng ở với chị thì chị yêu cầu được nuôi con chung, không yêu anh P cấp dưỡng. Đối với con chung tên Trần Yến Vy, hiện sống với anh P thì chị đồng ý giao người con tên Trần Yến Vy con cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng; Về tài sản chung, nợ chung, không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời, chị Y có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.

* Đối với bị đơn anh Trần Di P, Tòa án đã tống đạt triệu tập hợp lệ tham gia hòa giải, xét xử nhưng anh P vắng mặt không có lý do và không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của chị Y.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Chị Y khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh P, địa chỉ ấp 2, xã Khánh Tiến, huyện U Minh là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện U Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị Y có đơn xin xét xử vắng mặt, anh P vắng mặt không có lý do, Tòa án căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Y và anh P.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Y với anh P tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2015, đến ngày 04/4/2017 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh Tiến, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Do đó, hôn nhân giữa chị Y với anh P là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Chị Y yêu cầu ly hôn vì vợ chồng chung sống luôn bất đồng quan điểm sống, nên thường xuyên phát sinh mâu thuẫn và anh P không quan tâm vợ con. Anh P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để triệu tập tham gia phiên hòa giải nhưng anh P không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của chị Y. Từ đó, cho thấy mâu thuẫn giữa chị Y với anh P đã trầm trọng, quan hệ hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử cho chị Y với anh P ly hôn với nhau.

Về con chung: Xét thấy người con chung tên Trần Nguyễn Phương Vy có nguyện vọng sống chung với chị Y. Đối với người con tên Trần Yến Vy đang sống chung với anh P và chị Y đồng ý giao cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo cho con chung phát triển ổn định về mặt tâm sinh lý nên Hội đồng xét xử giao người con chung tên Trần Nguyễn Phương Vy cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng; Giao người con chung tên Trần Yến Vy cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị Y, anh P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Y xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh P không có ý kiến đối với tài sản chung và nợ chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp sau này các bên có xảy ra tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện khác theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Nguyễn Thị Bảo Y phải nộp 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b, khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 53, 56, 57, 58 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

* Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Bảo Y với anh Trần Di P.

2. Về con chung: Giao người con chung tên Trần Nguyễn Phương Vy, sinh ngày 25/10/2016 cho chị Nguyễn Thị Bảo Y trực tiếp nuôi dưỡng; Giao người con chung tên Trần Yến Vy, sinh ngày 26/7/2018 cho anh Trần Di P trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Bảo Y và anh Trần Di P có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm chị Nguyễn Thị Bảo Y phải nộp số tiền 300.000 đồng, ngày 12 tháng 01 năm 2024 chị Y đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006168 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau được đối trừ chuyển thu án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm chị Nguyễn Thị Bảo Y, anh Trần Di P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ