vanban.org

Bản án 14/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Ma Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ma Thị T được ly hôn anh Ly Seo G. Quan hệ hôn nhân của chị Ma Thị T và anh Ly Seo G được chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Về nuôi con khi ly hôn: Giao cho chị Ma Thị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Ly Thị Tuyết S, sinh ngày… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ma Thị T - Ly Seo G"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Ma Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/HNGĐ- ST
Ngày: 27 - 6 -2024
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI.

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thọ

Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Vũ Thị Thoa

+ Bà Trần Thị Xuân

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Ngô Anh Chiến - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2024. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 34 /2024/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:11/2024/QĐXX- ST, ngày 11 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị Ma Thị T, năm sinh 2000.

Địa chỉ: Thôn P, xã L, huyện B, tỉnh Lào Cai. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2.Bị đơn: Anh Ly Seo G, năm sinh 1997.

Địa chỉ: Thôn P, xã L, huyện B, tỉnh Lào Cai. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ly hôn nhận ngày 11/4/2024 và bản tự khai tiếp theo nguyên đơn chị Ma Thị T trình bày: Chị và anh G về chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện từ đầu năm 2015, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán, Đến ngày 05/6/2018 anh chị mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã L (nay là xã L), huyện B, tỉnh Lào Cai. Trong quá trình chung sống chị và anh G sống hạnh phúc được mấy năm đầu sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, nên thường xuyên xảy ra cãi, chửi lẫn nhau. Đỉnh điểm là ngày 01 tháng 01 năm 2024 hôm đó chị có tiếp khách vào nhà mới cho nhà anh chị chồng và có say rượu thì chị chồng thứ tư trong gia đình đã đưa chị vào phòng ngủ của vợ chồng chị. Khi anh G về nhà thì thấy chị đang ngủ cùng với cháu rể (con rể của chị chồng thứ ba) cũng say rượu và đang nằm tại phòng ngủ của vợ chồng chị, nhưng chị chồng vẫn đặt chị nằm ngủ cùng và đắp chăn cho chị cùng cháu rể, khoảng 15 phút sau thì anh G về và vào phòng thấy chị đang ngủ trên giường nên đã đánh chị vào vùng đầu, mặt, mắt làm chị sưng tím hết cả mặt, sau đó được mọi người can ngăn và đưa chị sang nhà anh chồng ngủ qua đêm. Sáng hôm sau chị về nhà thì anh G yêu cầu chị gọi cháu rể xuống giải quyết, chị có nói nếu như anh không hài lòng thì anh tự gọi cháu rể xuống giải quyết, nhưng anh G không gọi. Khi chị về nhà lấy áo mặc thì anh G nói chị đưa giấy tờ và tiền cho anh G còn chị thích đi đâu thì đi, nhà này không hoan nghênh chị nữa. Chị đã mở tủ và lấy giấy tờ, tiền đưa cho anh G. Anh G quay ra tát chị một cái, chị sợ quá chạy ra ngoài, nhưng anh G vẫn đuổi đánh chị. Sau đó anh G đã gọi điện thoại cho anh trai chị nói nếu không xuống đón chị về thì anh G đánh chết chị thì đừng có trách. Sau đó anh trai và bố mẹ chị đã xuống đón chị về nhà bố mẹ đẻ sống từ ngày 02/01/2024 cho đến nay. Chị và anh G đã sống ly thân từ đó cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị và anh G ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm không còn. Do vậy, chị T làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ly Seo G.

Tại bản tự khai ngày 12/4/2024 và quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Ly Seo G trình bày: Anh hoàn toàn nhất trí về thời gian kết hôn, quá trình chung sống như chị T trình bày. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh và chị T là vào ngày 01 tháng 01 năm 2024 hôm đó chị T có say rượu không thì anh không biết, khi anh về nhà thì thấy chị T đang ngủ cùng với cháu rể tại phòng ngủ của vợ chồng anh. Hôm đó anh cũng đã uống rượu, do không kìm chế được nên anh đã đánh chị T và sáng hôm sau anh đã yêu cầu chị T gọi cháu rể và chị gái anh xuống nhà để làm rõ mọi chuyện tối hôm trước, nhưng chị T không đồng ý gọi, nên anh có đánh tiếp chị T mấy cái vào mặt và chị T đã về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 12 (âm lịch) năm 2023. Sau khi biết việc anh đã đánh chị T là sai và anh đã đi đón nhiều lần nhưng chị T không chịu về nhà. Xét thấy mâu thuẫn giữa anh và chị Tầu chưa đến mức trầm trọng, tình cảm vẫn còn, anh mong muốn vợ chồng về đoàn tụ gia đình để cùng nhau nuôi dạy con cái trưởng thành. Nay chị T làm đơn xin ly hôn anh, anh không nhất trí ly hôn. Nếu chị T kiên quyết ly hôn anh thì anh đề nghị chị T phải trả lại tiền sính lễ khi tổ chức cưới là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).

- Về nuôi con khi ly hôn: Chị T và anh G đều thừa nhận trong thời gian sống chung có 02 con chung là cháu Ly Thị Tuyết S, sinh ngày 12/8/2016 và cháu Ly Quang M, sinh ngày 29/4/2018. Hiện nay các cháu đang sống cùng với anh Giáo, các cháu đều khỏe mạnh và phát triển bình thường.

Khi ly hôn chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được nuôi cháu Ly Thị Tuyết S. Anh Ly Seo G được nuôi cháu Ly Quang M, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Ly Seo G đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được nuôi cả 02 cháu Ly Thị Tuyết S và cháu Ly Quang M, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, anh yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi cháu M mỗi tháng là 2.500.000 đồng, cho đến khi cháu Minh đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Chị T và anh G không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôn nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử xử:

+ Về hôn nhân: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình: Chị Ma Thị T được ly hôn anh Ly Seo G.

+ Về con chung: Căn cứ Điều 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình: Giao cho chị Ma Thị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Ly Thị Tuyết S, sinh ngày 12/8/2016. Giao cho anh Ly Seo G được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Ly Quang M, sinh ngày 29/4/2018, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Chị Ma Thị T vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ly Seo G. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được nuôi cháu Ly Thị Tuyết S. Anh Ly Seo G được nuôi cháu Ly Quang M, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Anh Ly Seo G vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết cho anh về đoàn tụ gia đình. Nếu chị T kiên quyết ly hôn thì anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được nuôi cả hai cháu Ly Thị Tuyết S và cháu Ly Quang M, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, anh yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi cháu M mỗi tháng là 2.500.000 đồng, cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh trụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Chị Ma Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ly Seo G, giải quyết về nuôi con chung khi ly hôn. Anh G có hộ khẩu thường trú tại thôn P, xã L, huyện B, tỉnh Lào Cai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ma Thị T và anh Ly Seo G về chung sống với nhau từ năm 2015 trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình đồng ý và tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán. Đến ngày 05/6/2018 mới đi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã L (nay là xã L), huyện B. Trong quá trình sống chung anh chị sống hòa thuận hạnh phúc được mấy năm đầu. Sau đó, phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến trong việc phát triển kinh tế gia đình và nuôi dạy con cái, trong cuộc sống anh chị chưa có sự cảm thông, chia sẻ cho nhau những khó khăn, anh G chưa thực sự tin tưởng chị T. Giữa hai anh chị đã xảy ra xính mích đánh, cãi chửi nhau. Từ đó dẫn đến tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, khi anh chị xảy ra mâu thuẫn đã được gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả. Chị T và anh G đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2024 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị T làm đơn xin ly hôn anh G. Anh G xét thấy mâu thuẫn chưa đến mức trầm trọng, tình cảm vẫn còn, nên anh mong muốn vợ chồng về đoàn tụ gia đình để cùng nhau nuôi dạy con cái, anh không nhất trí ly hôn. Qua hòa giải chị T vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn. Còn anh G vẫn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị về đoàn tụ gia đình.

Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn giữa chị T và anh G rất khó dung hòa tình cảm vợ chồng, gia đình đã khuyên giải và Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, anh chị đã sống ly thân từ đầu tháng 01 năm 2024 cho đến nay, mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai. Như vậy, đủ thấy rằng mâu thuẫn giữa hai anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên xử cho chị T được ly hôn với anh G là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Quan hệ hôn nhân của chị Ma Thị T và anh Ly Seo G được chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về nuôi con khi ly hôn: Cả hai anh chị đều thừa nhận có 02 con chung là cháu Ly Thị Tuyết S, sinh ngày 12 tháng 8 năm 2016 và cháu Ly Quang M, sinh ngày 29 tháng 4 năm 2018. Hiện nay cả hai cháu đang sống cùng với anh G.

Tại phiên hòa giải và tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt của chị T và anh G đều có nguyện vọng xin được nuôi con. Chị T xin được nuôi cháu S, còn anh G nuôi cháu M, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh G xin được nuôi cả hai cháu và yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi cháu M Mỗi tháng là 2.500.000 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy: Chị T và anh G đều có nguyện vọng xin được nuôi con chung. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hỏi ý kiến của cháu Ly Thị Tuyết S thì cháu có nguyện vọng muốn được sống cùng với chị T. Chị T và anh G đều làm nghề tự do, có mức thu nhập ngang nhau, cả hai anh chị đều có điều kiện để nuôi dạy con trưởng thành và đảm bảo cho sự phát triển của cháu S và cháu M và theo nguyện vọng của cháu S. Xét việc chị Tầu có nguyện vọng được nuôi cháu S, anh G nuôi cháu M, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật. Còn anh G có nguyện vọng xin được nuôi cả hai cháu và yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi cháu M mỗi tháng 2.500.000 đồng là chưa phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên không được chấp nhận. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi cho cháu S và cháu M và theo nguyện vọng của cháu S nên căn cứ vào Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình cần giao cho chị Ma Thị T được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Ly Thị Tuyết S. Anh Ly Seo G được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Ly Quang M, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị Ma Thị T và anh Ly Seo G không đề nghị Toà án giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Đối với việc anh Ly Seo G yêu cầu chị Ma Thị T phải trả số tiền là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) tiền sính lễ và các khoản chi phí mà anh đã bỏ ra khi cưới chị T về. Trong quá trình giải quyết anh G không có yêu cầu phản tố và không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì chứng minh cho yêu cầu của mình. Xét thấy việc anh G yêu cầu chị T phải trả tiền sính lễ và các khoản chi phí khi anh tổ chức cưới là không có căn cứ, nên không được chấp nhận. Nếu sau này anh có đủ tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình thì sẽ được giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Ma Thị T phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

Về quyền kháng cáo: Chị Ma Thị T và anh Ly Seo G được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Khoản 4 Điều 147; Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Ma Thị T.

1.Về quan hệ hôn nhân: Chị Ma Thị T được ly hôn anh Ly Seo G. Quan hệ hôn nhân của chị Ma Thị T và anh Ly Seo G được chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2.Về nuôi con khi ly hôn: Giao cho chị Ma Thị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Ly Thị Tuyết S, sinh ngày 12 tháng 8 năm 2016. Giao cho anh Ly Seo G được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Ly Quang M, sinh ngày 29 tháng 4 năm 2018, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con; mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Ma Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghin đồng) tiền án

̀ phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng án phi dân sự sơ

́ thẩm đa nô ̣̃ p là 300.000 đồng (Ba trăm nghin đồng), theo biên lai số 0001360, ngày 11

̀

tháng 4 năm 2024 của Chi cục thi hành á n dân sự huyện B ắc Hà. Chị T đã nộp đủ tiền án phí.

Án xử công khai sơ thẩm: Chị Tầu và anh Giáo vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ