- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Phan Thị X và Nguyễn Thị G " Tranh chấp hợp đồng vay tài sản""
- Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị X đối với bị đơn bà Nguyễn Thị G. Buộc bà G có nghĩa vụ trả nợ cho bà X số tiền 34.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY AN TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2024/DS-ST Ngày: 17/7/2024 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY AN, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Xuân Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Hùng Định và bà Phạm Thị Đăng Thanh.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thanh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2024/TLST- DS ngày 25 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXX-ST ngày 14 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Phan Thị X – sinh năm 1970; Địa chỉ: thôn N, xã H, huyện A, tỉnh Phú Yên, có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị G – sinh năm 1975; Địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện A, tỉnh Phú Yên, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn bà Phan Thị X trình bày: Do có quan hệ quen biết, vào ngày 25/12/2022, bà có cho bà Nguyễn Thị G mượn số tiền 34.000.000đ (Ba mươi bốn triệu đồng). Thời gian mượn 01 tháng. Khi hết thời hạn 01 tháng, bà đã nhiều lần đòi nợ nhưng bà G hứa hẹn, kéo dài rồi không liên lạc với bà. Bà có gọi điện thoại nhưng bà G không nhận máy. Bà G không trả nợ cho bà. Bà khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà G phải trả cho bà số tiền đã mượn 34.000.000đ (Ba mươi bốn triệu đồng). Bà không yêu cầu tính lãi suất. Giấy mượn tiền đề ngày 25/12/2022: do bà G viết và ký, ghi họ và tên trước mặt bà.
Theo tài liệu có tại hồ sơ vụ án, Tòa án nhân dân huyện Tuy An đã tiến hành hòa giải, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn là Nguyễn Thị G nhưng bà G không đến Toà án, không thực hiện nghĩa vụ của đương sự và vắng mặt. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt vẫn giữ nguyên yêu cầu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy An phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi xét xử Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký và những người tham gia tố tụng cơ bản tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Nguyễn Thị G phải trả cho bà Phan Thị X số tiền đã vay là 34.000.000đ, không tính lãi suất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Phan Thị X khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị G trả tiền vay tài sản theo giấy mượn tiền lập ngày 25/12/2022. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện A, tỉnh Phú Yên. Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 26 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa.
Về nội dung: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền vay, đây là hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự. Xét yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:
- Giữa bà X và bà G có hợp đồng vay tài sản thể hiện bằng Giấy mượn tiền lập ngày 25/12/2022 có chữ ký của người mượn tiền Nguyễn Thị G. Bà X đã nhiều lần đòi nợ bà G. Bà G có mượn tiền bà X nhưng không trả nợ là xâm phạm đến quyền lợi của bà X. Vì vậy bà X khởi kiện là có căn cứ.
- Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ bà Nguyễn Thị G nhưng bà G vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến và Tòa án cũng không thể tiến hành lấy lời khai của bà G nên không có cơ sở xem xét.
- Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi suất nên Hội đồng xét xử không xét.
- Từ các chứng cứ trên, Hội đồng xét xử thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị G phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà Phan Thị X số tiền 34.000.000đ (Ba mươi bốn triệu đồng).
Về án phí: Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn bà Nguyễn Thị G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm: 34.000.000đ x 5% = 1.700.000đ (Một triệu bảy trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 35; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463; Điều 466 của Bộ luật dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị X đối với bị đơn bà Nguyễn Thị G. Buộc bà G có nghĩa vụ trả nợ cho bà X số tiền 34.000.000đ (ba mươi bốn triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành, nếu bên phải thi hành án chưa thi hành xong khoản tiền phải thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi trả chậm quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự đối với số tiền chưa thi hành.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[2] Về án phí: Bà Nguyễn Thị G phải chịu 1.700.000đ (Một triệu bảy trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn lại cho bà Phan Thị X 850.000đ (Tám trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền số 0010636 ngày 01/02/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện A.
[3] Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.
| * Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện; - THADS huyện; - Đương sự; - Lưu hồ sơ; Án Văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Xuân Hương |