- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Trung S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Trung S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 14/2023/HSST Ngày 07 - 12 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bàn Văn Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Cà Văn Pống .
2. Ông Nguyễn Mạnh Cường.
Thư ký Toà án: Bà Cầm Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà:
Ông Vừ Bả Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2023/TLST - HS ngày 31 tháng 10 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2023/QĐXXST - HS ngày 27 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo.
1. Họ và tên: Hoàng Trung S; Tên gọi khác: Không; sinh năm 1994; Tại huyện Q, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: X1, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La: Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 8/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái đoàn thể: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đoàn Hải T; Hiện trú tại: Huyện M, tỉnh Sơn La và bà Hoàng Thị N; Nơi cư trú: X1, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La. Bị cáo có vợ là Lò Thị X và 01 con, sinh năm 2023. Hiện trú tại: Bản L, xã T, huyện T, tỉnh Sơn La.
Tiền án: Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2023 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 17/8/2023 Hoàng Trung S có hành vi tàng trữ trái phép 1,19 gam ma túy loại MDMA nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ: 01 gói nilon màu trắng, hàn kín bên trong có chứa chất cục, bột màu xám nghi là ma túy, 01 chiếc túi vải màu đen, có dây đeo.
Cùng ngày Công an huyện Q, tỉnh Sơn La phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành xét nghiệm ma túy đối với Hoàng Trung S, kết quả: Hoàng Trung S dương tính với chất ma túy (MOP, MET, MDMA).
Ngày 18/8/2023 Cơ quan điều tra Công an huyện Q phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La và Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Nhai tiến hành bóc mở, niêm phong, cân tịnh, xác định khối lượng đối với chất cục, bột màu xám nghi là ma túy thu giữ của Hoàng Trung S; Kết quả, chất cục, bột màu xám có khối lượng là 1,19 gam trích lấy 0,13gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu A1. Còn lại 1,06 gam làm vật chứng lưu kho ký hiệu B1.
Tại bản kết luận giám định số: 2038/KL – KTHS ngày 22/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận “Mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy loại MDMA, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,13 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,19 gam loại MDMA”. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 17/8/2023 Hoàng Trung S bắt xe buýt từ trung tâm huyện Q đến xã Tông Lạnh, huyện T tìm mua ma túy về sử dụng. Tại ngã ba xã T, S gặp một người đàn ông đang sử dụng ma túy trong một con hẻm cạnh đường nên S hỏi và mua được 01 gói ma túy với người đàn ông đó với giá 300.000đ. Mua được ma túy S cho gói ma túy vào túi vải đeo chéo trước bụng rồi bắt xe buýt về huyện Q. Khoảng 22 giờ cùng ngày khi S đang đi ngoài đường thì S bị Công an huyện Q, tỉnh Sơn La phát hiện bắt người phạm tội bắt quả tang, thu giữ vật chứng nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 57/CT - VKS - QN ngày 30/10/2023 của Viện kiểm sát nhân huyện Q, tỉnh Sơn La đã truy tố Hoàng Trung S về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định như cáo trạng truy tố đối với bị cáo Hoàng Trung S về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Trung S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy: Về hình phạt chính, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Hoàng Trung S 30 (Ba mươi) đến 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/8/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đề nghị tuyên tiêu hủy: - 01 phong bì công văn của Công an huyện Q được niêm phong dán kín; Mặt trước phong bì có ghi; 01 túi nilon màu trắng hàn kín đựng vật chứng ban đầu + 1,06 gam chất cụ, bột màu xám được đựng trong một túi ni lon màu trắng hàn kín ký hiệu B1 + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Mặt sau tại mép dán giáp lai phong bì được dán đè giấy niêm phong số 098335 của Công an tỉnh Sơn La.
- 01 phong bì công văn của Công an huyện Q được niêm phong dán kín; Mặt trước phong bì có ghi: 01 chiếc túi vải màu đen, có đây đeo, 02 khóa kéo, trên túi có in chữ ADIDAS, túi đã qua sử dụng, thu giữ của Hoàng Trung S. Mặt sau tại mép dán giáp lai phong bì được dán đè giấy niêm phong số 098833 của Công an tỉnh Sơn La.
Bị cáo Hoàng Trung S phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và đề nghị tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Trung S khai nhận, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La được Kiểm sát viên công bố tại phiên tòa phù hợp với bản cáo trạng bị cáo đã nhận. Do hành vi của bị cáo đã rõ, nên bị cáo Hoàng Trung S không có ý kiến gì tranh luận với Kiểm sát viên tại phiên tòa.
C¨n cø vµo c¸c chøng cø vµ tµi liÖu có trong hồ sơ, ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ; C¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, bÞ c¸o và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, tỉnh Sơn La, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa về thời gian, địa điểm và diễn biến sự việc phù hợp với bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, bị cáo không có ý kiến gì thay đổi hay bổ sung gì và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng thu giữ. Kết luận giám định “Khối lượng chất ma túy bị thu giữ là 1,19 gam ma túy loại MDMA”. Bị cáo khai mục đích mua để sử dụng cho bản thân.
Như vậy: Có đủ căn cứ kết luận: Ngày 17/8/2023 Công an huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La bắt quả tang Hoàng Trung S, sinh năm 1994; Nơi cư trú: X1, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng là 1,19 gam loại Heroine.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền về các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, sức khỏe con người và sự phát triển bình thường của nòi giống dân tộc, phá hoại nhân cách con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây xói mòn đạo lý, làm gia tăng tội phạm, bạo lực, vắt kiệt nhân lực, tài chính gia đình và làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua chất ma túy là Heroine để sử dụng là vi phạm pháp luật, nhưng vì nhu cầu sử dụng của bản thân, bị cáo cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, có quy định khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm tù; Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Trung S khai nhận việc bị truy tố và bị đưa ra xét xử là đúng người, đúng tội, không oan, sai cho bị cáo. Do vậy; bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, để bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, để răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý nói chung tại địa phương hiện nay.
Xét về nhân thân bị cáo: - Năm 2017 bị Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, với thời hạn là 24 tháng. Mặc dù bị cáo Hoàng Trung S đã chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, nên đương nhiên được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định của pháp luật, nhưng vẫn được coi là bị cáo có nhân thân xấu; Lẽ ra bị cáo phải lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân, trở thành công tốt cho gia đình và xã hội, do nghiện ma túy nên bị cáo lại tiếp tục đi tìm mua ma túy về để sử dụng cho bản thân.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có bà ngoại là Điêu Thị K là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, là tình tiết giảm trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Qua xác minh, bị cáo hiện nay đang sống vào nghề lao động tự do, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo Hoàng Trung S khai là mua với 01 người đàn ông không quen biết tại khu vực ngã ba xã T, huyện T tỉnh Sơn La vào ngày 17/8/2023 nhưng bị cáo Hoàng Trung S không biết họ tên và địa chỉ cụ thể. Nên Cơ quan điều tra Công an huyện Q, tỉnh Sơn La không có cơ sở điều tra xử lý đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo. Buộc bị cáo Hoàng Trung S phải chịu trách nhiệm hình sự đối với toàn bộ số 1,19 gam ma túy loại Heroine (MDMA) thu giữ nêu trên.
Vật chứng vụ án: Tuyên tiêu hủy: - 01 phong bì công văn của Công an huyện Q được niêm phong dán kín; Mặt trước phong bì có ghi; 01 túi nilon màu trắng hàn kín đựng vật chứng ban đầu + 1,06 gam chất cục, bột màu xám được đựng trong một túi ni lon màu trắng hàn kín ký hiệu B1 + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Mặt sau tại mép dán giáp lai phong bì được dán đè giấy niêm phong số 098335 của Công an tỉnh Sơn La.
- 01 phong bì công văn của Công an huyện Q được niêm phong dán kín; Mặt trước phong bì có ghi: 01 túi chiếc túi vải màu đen, có đây đeo, 02 khóa kéo, trên túi có in chữ ADIDAS, túi đã qua sử dụng, thu giữ của Hoàng Trung S. Mặt sau tại mép dán giáp lai phong bì được dán đè giấy niêm phong số 098833 của Công an tỉnh Sơn La, số vật chứng trên là vật bị Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật không có giá trị sử dụng, nên cần tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo Hoàng Trung S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Hoàng Trung S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Xử phạt bị cáo Hoàng Trung S 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/8/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.
2. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an huyện Q được niêm phong dán kín; Mặt trước phong bì có ghi; 01 túi nilon màu trắng hàn kín đựng vật chứng ban đầu + 1,06 gam chất cục, bột màu xám được đựng trong một túi ni lon màu trắng hàn kín ký hiệu B1 + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Mặt sau tại mép dán giáp lai phong bì được dán đè giấy niêm phong số 098335 của Công an tỉnh Sơn La.
- 01 phong bì công văn của Công an huyện Q được niêm phong dán kín; Mặt trước phong bì có ghi: 01 túi chiếc túi vải màu đen, có đây đeo, 02 khóa kéo, trên túi có in chữ ADIDAS, túi đã qua sử dụng, thu giữ của Hoàng Trung S. Mặt sau tại mép dán giáp lai phong bì được dán đè giấy niêm phong số 098833 của Công an tỉnh Sơn La.
Theo biên bản bàn giao vật chứng số 16/2024 ngày 31/10/2023 giữa Công an huyện Q, tỉnh Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Q, tỉnh Sơn La.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án - Bị cáo Hoàng Trung S phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
BÞ c¸o Hoàng Trung S có quyÒn kh¸ng c¸o bản án trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n sơ thẩm./. N¬i nhËn:
| - TA ND TØnh; - VKSND (02); - Sở Tư pháp; - CQĐT + TG - Công an Q(02); - THA h×nh sù; - THA d©n sù; - UBND xã M; - BÞ c¸o; - L u hå s¬; THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Cà Văn Pống Nguyễn Mạnh Cường | T/m.héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bàn Văn Hoàng THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bàn Văn Hoàng |