vanban.org

Bản án 14/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai Tuyên án 19/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ninh Công T phạm tội “Buôn bán hàng cấm” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử: Phạt bị cáo Ninh Công T 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Xử: Phạt bị cáo Ninh Công T 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ninh Công Tài "Buôn bán hàng cấm" - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ninh Công T phạm tội “Buôn bán hàng cấm” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ THIỆN
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2023/HSST
Ngày 19/5/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ksor Jưh

- Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Bùi Văn Khiêm

+ Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà : Ông Vi Văn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/QĐXXST-HS ngày 25/4/2023 đối với bị cáo:

Ninh Công T, sinh năm 2001, tại Gia Lai Nơi cư trú: Tổ dân phố 8, thị trấn PT, huyện PT, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Ninh Công Tr và bà Nguyễn Thị D; Vợ, con: Không có; tiền sự, tiền án: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/12/2022 đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Lương Công A, sinh năm 1997

Nơi cư trú: Tổ dân phố 5, thị trấn PT, huyện PT, tỉnh Gia Lai. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

Anh Ninh Xuân H, sinh ngày 17/01/2007. Có mặt.

Người đại diện hợp pháp cho Ninh Xuân H: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1988 (Mẹ đẻ). Có mặt.

Cùng cư trú: Tổ dân phố 6, thị trấn PT, huyện PT, tỉnh Gia Lai.

Anh Hoàng Minh Q, sinh ngày 10/12/2007.

Người đại diện hợp pháp cho Hoàng Minh Q: Ông Hoàng Văn Hiếu, sinh năm 1985 (Bố đẻ). Vắng mặt.

Cùng cư trú: Tổ dân phố 13, thị trấn PT, huyện PT, tỉnh Gia Lai.

Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1983. Có mặt.

Nơi cư trú: Tổ dân phố 8, thị trấn PT, huyện PT, tỉnh Gia Lai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng giữa tháng 11/2022, Ninh Công T đến Thành phố HCM chơi thì gặp được đối tượng tên Bự (không xác định nhân thân, lai lịch). Tại đây, Bự có cho T 05 túi nilon nhỏ chứa chất ma túy (gồm 03 gói ma túy loại “Ke”, 02 gói ma túy loại “Thuốc lắc”) về để sử dụng. Số ma túy trên T đem cất giấu trong túi áo khoác rồi về lại thị trấn PT, PT, Gia Lai.

Sáng ngày 03/12/2022, Ninh Công T đặt mua 10 hộp pháo nổ của một đối tượng tên Lỳ (không xác định nhân thân, lai lịch) ở huyện ĐC, tỉnh Gia Lai với giá 7.300.000đ (Bảy triệu ba trăm nghìn đồng) về bán kiếm lời và theo thỏa thuận sau khi bán hết số pháo trên thì T mới gửi tiền về cho Lỳ để trả. Đến khoảng 17h00’ cùng ngày, T nhờ Ninh Xuân H, sinh ngày 17/01/2007 nhận số pháo đặt mua trước đó do Lỳ gửi về từ xe khách. Sau đó, H lấy số pháo trên đưa về cho T cất giấu.

Khoảng 19h00’ cùng ngày, T bán 05 hộp pháo cho Lương Công A với giá 930.000đ/ 01 hộp, anh A trả tổng số tiền là 4.650.000 (Bốn triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Sau khi mang 05 hộp pháo về nhà, A cùng gia đình kiểm tra thì phát hiện số pháo đã mua thuộc loại không được phép sử dụng nên đã mang toàn bộ 05 hộp pháo trên đến Cơ quan Công an huyện PT trình báo và giao nộp.

Khoảng 19h30’ cùng ngày, T bán 05 hộp pháo còn lại cho Ninh Xuân H với giá 900.000đ/ hộp để H đem bán lại cho người khác kiếm lời. T và H thỏa thuận khi H bán hết số pháo trên sẽ trả tiền mua pháo cho T. Sau đó, H điều khiển xe mô tô biển số 81D1-229.28 (xe của gia đình H) chở số pháo trên đi xung quanh thị trấn Phú Thiện tìm người dân có nhu cầu mua. Lúc này, có đối tượng tên H (không xác định nhân thân, lai lịch) gọi điện thoại cho H hỏi mua 05 hộp pháo với giá 1.000.000đ/ hộp và H đồng ý. Trên đường đi, H có rủ thêm Hoàng Minh Q, sinh ngày 10/12/2007 cùng đi bán pháo và Q đồng ý. Lúc 21h30’ cùng ngày, Q điều khiển xe H chở ngồi phía sau ôm 05 hộp pháo đi đến khu vực đường nội thị thuộc Tổ dân phố 11, TT PT thì bị lực lượng Công an huyện PT phát hiện, bắt quả tang, lập biên bản thu giữ toàn bộ tang vật gồm: 03 hộp giấy kín bên ngoài có in dòng chữ “HAPY BOOM ASSORTED CELEBRATION CAKE REPEATER” và 02 hộp giấy kín bên ngoài có in dòng chữ “KS4-4911A BILLION TIME A-49 SHOTS”

Sau khi thấy Ninh Xuân H mang pháo đi bán nhưng không thấy mang tiền về trả nên Ninh Công T mặc áo khoác bên trong túi áo có 05 gói ma túy trước đó được “Bự” cho điều khiển xe mô tô đi tìm H. Lúc 00h10’ ngày 04/12/2022, khi T vừa điều khiển xe từ nhà ra đến khu vực đường nội thị thuộc Tổ dân phố 08, TT PT đã bị lực lượng Công an huyện PT phát hiện bắt quả tang, lập biên bản thu giữ tang vật gồm: 03 gói nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng tinh thể (nghi ma túy); 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa 03 viên nén màu hồng và 02 viên nén màu xanh (nghi ma túy); 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu xám (nghi ma túy).

Sau đó, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Ninh Công T, Ninh Xuân H, Lương Công A và Hoàng Minh Q nhưng không thu giữ được gì thêm.

Cơ quan điều tra tiến hành niêm phong các tang vật nghi ma túy thu trên người Ninh Công T, gồm: 03 túi nilon bên trong chứa chất bột màu trắng dạng tinh thể màu trắng, ký hiệu “M1” và 02 túi nilon (Trong đó: 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 03 viên nén màu hồng và 02 viên nén màu xanh; 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu xám), ký hiệu “M2”.

Cơ quan điều tra tiến hành niêm phong các tang vật nghi pháo nổ, gồm: 05 hộp (04 hộp giấy kín bên ngoài có in dòng chữ “KS4-4911A BILLION TIME” và 01 hộp giấy kín bên ngoài in dòng chữ “HAPY BOOM ASSORTED CELEBRATION CAKE REPEATER, do Lương Công Anh giao nộp, niêm phong trong một thùng giấy các tông, ký hiệu “M1” và 05 hộp (03 hộp giấy kín bên ngoài có in dòng chữ “HAPY BOOM ASSORTED CELEBRATION CAKE REPEATER” và 02 hộp giấy kín bên ngoài có in dòng chữ “KS4-4911A BILLION TIME”), thu giữ khi bắt quả tang Ninh Xuân H và H Minh Q, niêm phong trong một thùng giấy các tông, ký hiệu “M2”.

Toàn bộ tang vật đã niêm phong gửi Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai để giám định chất ma túy và pháo nổ.

- Tại bản kết luận số 848 ngày 12/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, xác định:

+ Chất màu trắng đục, dạng tinh thể trong 03 (ba) túi nilon (túi zip), trong bì công văn ghi “M1”, niêm phong gửi giám định đều là ma túy, loại Ketamine, tổng khối lượng 4,8132gam.

+ 05 (năm) viên nén (03 viên nén màu hồng, 02 viên nén màu xám) và chất dạng bột màu xám, trong 02 (hai) túi nilon (túi zip), trong bì công văn ghi “M2”, niêm phong gửi giám định đều là ma túy, loại MDMA, tổng khối lượng 1,9573gam.

- Tại bản kết luận số 843 ngày 12/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, xác định: 10 (mười) hộp giấy kín, bên trong mỗi hộp có 49 (bốn mươi chín) vật hình trụ có dây nối liên kết với nhau đựng trong 02 (hai) thùng giấy các tông ghi “M1” và “M2” chuyển đến giám định là pháo hoa nổ, tổng khối lượng 02 (hai) thùng giấy các tông là 17,0kg. Khối lượng cụ thể từng thùng:

+ Thùng giấy các tông ghi “M1”: Khối lượng 8,4kg

+ Thùng giấy các tông ghi “M2”: Khối lượng 8,6kg

* Về vật chứng vụ án:

- Vật chứng là các chất ma túy, gồm:

+ Chất màu trắng đục, dạng tinh thể trong 03 (ba) túi nilon (túi zip), là ma túy, loại Ketamine, tổng khối lượng 4,8132gam. Sau giám định còn lại 4,4427 gam

+ 05 (năm) viên nén (03 viên nén màu hồng, 02 viên nén màu xám) và chất dạng bột màu xám, trong 02 (hai) túi nilon (túi zip), là ma túy, loại MDMA, tổng khối lượng 1,9573gam. Sau giám định còn lại 1,7961 gam

- Vật chứng là pháo hoa nổ, gồm: 10 (mười) hộp giấy kín, bên trong mỗi hộp có 49 (bốn mươi chín) vật hình trụ có dây nối liên kết với nhau, tổng khối lượng là 17,0kg. Sau giám định còn 06 hộp, tổng khối lượng là 10,2kg.

- Số tiền 4.650.000đ (Bốn triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng), Ninh Công T giao nộp.

Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKS, ngày 29 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Ninh Công T về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Điểm g Khoản 1 Điều 52 BLHS. Xử phạt bị cáo Ninh Công T từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”

Áp dụng điểm i Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Xử phạt bị cáo Ninh Công T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự.

Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Ninh Công T phải chấp hành hình phạt chung là từ 02 năm đến 03 năm tù.

- Về vật chứng:

+ Đề nghị tịch thu tiêu hủy chất ma túy gồm chất màu trắng đục, dạng tinh thể trong 03 (ba) túi nilon (túi zip), là ma túy, loại Ketamine, tổng khối lượng 4,8132gam và sau giám định còn lại 4,4427 gam; 05 (năm) viên nén (03 viên nén màu hồng, 02 viên nén màu xám) và chất dạng bột màu xám, trong 02 (hai) túi nilon (túi zip), là ma túy, loại MDMA, tổng khối lượng 1,9573gam và sau giám định còn lại 1,7961 gam;

+ Đề nghị tịch thu tiêu hủy pháo hoa nổ, gồm: 10 (mười) hộp giấy kín, bên trong mỗi hộp có 49 (bốn mươi chín) vật hình trụ có dây nối liên kết với nhau, tổng khối lượng là 17,0kg. Sau giám định còn 06 hộp, tổng khối lượng là 10,2kg.

Trả lại số tiền 4.650.000 đồng cho Lương Công Anh đã tạm giữ của bị cáo do bán pháo hoa nổ.

- Về án phí: Buộc bị cáo Ninh Công T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

- Ý kiến của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Thống nhất với tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự, về xử lý vật chứng mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:

Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như sau: Ninh Công T có quen biết đối tượng tên Lỳ (huyện ĐC, tỉnh Gia Lai) bán pháo và muốn mua pháo về bán kiếm lời vào dịp Tết Nguyên đán nên sáng ngày 03/12/2022, Ninh Công T đặt mua 10 hộp pháo hoa nổ với giá 7.300.000đ (Bảy triệu ba trăm nghìn đồng),thỏa thuận khi nào bán xong pháo nổ trên thì mới chuyển gửi tiền về cho tên Lỳ. Sau đó tên Lỳ đóng thùng và gửi số pháo trên bởi xe khách về thị trấn PT. Đến khoảng 17h00’ cùng ngày, T nhờ Ninh Xuân H nhận số pháo do Lỳ gửi về từ xe khách. Sau đó, H lấy số pháo trên đưa về cho T cất giấu. Khoảng 19h00’ cùng ngày, T bán cho Lương Công A 05 hộp pháo Lương Công A trả với giá 4.650.000đ (Bốn triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Đến khoảng 19h30’ cùng ngày, T tiếp tục bán cho Ninh Xuân H 05 hộp pháo còn lại với giá 900.0000đ/ 01 hộp nhưng chưa nhận tiền. Trong lúc H đi bán thì bị bắt quả tang, đồng thời Ninh Công T cũng bị bắt sau đó về hành vi tàng trữ ma túy, lập biên bản thu giữ toàn bộ tang vật.

- Tại bản kết luận số 848 ngày 12/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, xác định:

+ Chất màu trắng đục, dạng tinh thể trong 03 (ba) túi nilon (túi zip) là ma túy, loại Ketamine, tổng khối lượng 4,8132gam.

+ 05 (năm) viên nén (03 viên nén màu hồng, 02 viên nén màu xám) và chất dạng bột màu xám, trong 02 (hai) túi nilon (túi zip) đều là ma túy, loại MDMA, tổng khối lượng 1,9573gam.

- Tại bản kết luận số 843 ngày 12/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, xác định: 10 (mười) hộp giấy kín, bên trong mỗi hộp có 49 (bốn mươi chín) vật hình trụ có dây nối liên kết với nhau là pháo hoa nổ, tổng khối lượng 02 (hai) thùng giấy các tông là 17,0kg. Khối lượng cụ thể từng thùng:

+ Thùng giấy các tông ghi “M1”: Khối lượng 8,4kg

+ Thùng giấy các tông ghi “M2”: Khối lượng 8,6kg

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các T liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Kết luận giám định, biên bản bắt quả tang, biên bản thu giữ vật chứng. Vậy có đủ căn cứ khẳng định hành vi của bị cáo Ninh Công T đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Xét cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người đúng tội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế, kinh doanh một số loại hàng cấm và xâm phạm trực tiếp đến trật tự độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, đồng thời gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải xử phạt nghiêm khắc và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người tốt, đồng thờ cần răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn, hối cải về hành vi của mình. Do đó, cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng tình tiết phạm tội nhiều lần cho bị cáo đối với hành vi buôn bán hàng cấm. Qua xem xét, đánh giá thấy rằng việc thực hiện hành vi bán pháo hoa nổ lại cho anh Anh và H trong cùng một ngày, không có khoảng cách về thời gian. Do đó không có căn cứ áp dụng tình tiết phạm tội nhiều lần cho bị cáo.

Đối với đối tượng tên “Bự” là người cho ma túy và đối tượng tên “Lỳ” là người bán pháo hoa nổ cho Ninh Công T trong vụ án. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng trên. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi có đủ cơ sở sẽ xử lý sau, là đúng quy định.

Đối với Lương Công Anh, là người có hành vi mua pháo hoa nổ của Ninh Công T trong vụ án. Tuy nhiên, sau khi mua Anh biết số pháo trên không được phép sử dụng và thuộc hàng cấm nên đã tự nguyện giao nộp lại toàn bộ số pháo đã mua cho Cơ quan Công an. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý, là đúng quy định.

Đối với Ninh Xuân H và Hoàng Minh Q, là người có hành vi mua của bị cáo T và kiếm người để bán lại đối với số pháo của Ninh Công T. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi thì H mới được 15 năm 10 tháng tuổi, Q mới được 14 năm 11 tháng tuổi nên cả hai chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, Cơ quan điều tra chuyển hành vi của Ninh Xuân H và Hoàng Minh Q để áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, là có căn cứ và phù hợp.

[ 4] Về biện pháp tư pháp:

Xét số tiền bị cáo T đặt mua số pháo hoa nổ của tên Lỳ có tổng khối lượng là 17,0kg với số tiền là 7.300.000đồng, tuy nhiên bị cáo T chưa trả tiền cho tên Lỳ nên không có cơ sở buộc bị cáo nộp lại.

Đối với số tiền 4.650.000 đồng của Lương Công A mua pháo của bị cáo T đã được Cơ quan Điều tra thu giữ, anh A mặc dù vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu trả lại số tiền trên. Xét thấy khi anh A phát hiện ra số pháo hoa nổ đã mua thuộc hàng cấm nên lập tức giao nộp lại toàn bộ số pháo trên cho Công an. Việc thỏa thuận của anh A với bị cáo T là hơp pháp, tuy nhiên khi giao hàng thì bị cáo giao không đúng với thỏa thuận về chủng loại hàng hóa như ban đầu nên bị cáo vi phạm cam kết với anh A , anh A đã giao nộp cho Công an. Xét yêu cầu của anh A là hợp pháp nên cần trả lại số tiền trên cho anh A theo đúng quy định.

Về vật chứng vụ án:

Vật chứng là các chất ma túy, gồm: Chất màu trắng đục, dạng tinh thể trong 03 (ba) túi nilon (túi zip), là ma túy, loại Ketamine, tổng khối lượng 4,8132gam và sau giám định còn lại 4,4427 gam; 05 (năm) viên nén (03 viên nén màu hồng, 02 viên nén màu xám) và chất dạng bột màu xám, trong 02 (hai) túi nilon (túi zip), là ma túy, loại MDMA, tổng khối lượng 1,9573gam và sau giám định còn lại 1,7961 gam.

Vật chứng là pháo hoa nổ, gồm: 10 (mười) hộp giấy kín, bên trong mỗi hộp có 49 (bốn mươi chín) vật hình trụ có dây nối liên kết với nhau, tổng khối lượng là 17,0kg. Sau giám định còn 06 hộp, tổng khối lượng là 10,2kg.

Xét thấy các vật chứng trên thuộc hàng cấm sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Ninh Công T phạm tội “Buôn bán hàng cấm” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử: Phạt bị cáo Ninh Công T 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”.

Căn cứ điểm i khỏan 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự về.

Xử: Phạt bị cáo Ninh Công T 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự.

Buộc bị cáo Ninh Công T phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 27 (Hai bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 04/12/2022.

2. Về biện pháp tư pháp: Điều 46; Điểm c khoản 1, khoản 2 điều 47 BLHS.

Trả lại số tiền 4.650.000đồng cho anh Lương Công Anh (đã được thu giữ theo bản giao nhận vật chứng lập ngày 26/4/2023, giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Thiện với Chi cục THA DS huyện Phú Thiện)

3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu và tiêu hủy ma túy loại Ketamine có khối lượng sau giám định còn lại là 4,4427 gam và ma túy, loại MDMA có khối lượng sau giám định còn lại 1,7961 gam.

- Tịch thu và tiêu hủy 06 hộp pháo hoa nổ có khối lượng là 10,2kg.

( Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 26/4/2023, giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Thiện với Chi cục THA DS huyện Phú Thiện).

4. Về án phí:

- Căn cứ khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Căn cứ Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Buộc bị cáo Ninh Công T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được được niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hánh án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hàn án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ