- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2023/HSST Ngày 22 - 02 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUỴÊN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Quảng
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Lam và bà Nguyễn Thị Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện VKSND huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Mai Anh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bố Trạch xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 95/2022/TLST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2023/QĐXXST – HS ngày 02/02/2023 đối với các bị cáo:
1. Lê Văn T; giới tính: nam; tên gọi khác: không; sinh ngày: 08/01/1977; nơi đăng ký cư trú: Thôn L, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị; Quộc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; trình độ học vấn: 6/12; con ông Lê V và bà Nguyễn Thị H; vợ: Hoàng Thị T, sinh năm 1980, (đã ly hôn); con: có 01 con (sinh năm 2017).
Nhân thân: Ngày 13/4/2007, “Đánh nhau”, bị Công an huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị xử phạt VPHC 350.000 đồng (đã thi hành xong ngày 04/01/2021).
- Tiền án: 02 tiền án về tội “Đánh bạc”:
+ Ngày 05/02/2020, “Đánh bạc”, Toà án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị xử phạt 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), án số 13/2020/HSST ngày 13/5/2020.
+ Ngày 06/8/2020, “Đánh bạc”, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị xử phạt 06 tháng tù, án số 08/2021/HSST ngày 10/3/2021, chấp hành án tại Trại giam Nghĩa An, C10, Bộ Công an (tại tỉnh Quảng Trị), đến ngày 02/11/2021 chấp hành xong hình phạt.
- Tiền sự: không có.
Bị cáo bị bắt tạm giử từ ngày 06 tháng 10 năm 2022 cho đến ngày 08 tháng 10 năm 2022 áp dụng biện pháp “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú” đến nay, có mặt.
2. Nguyễn Văn H; giới tính: nam; tên gọi khác: không; sinh ngày 10 tháng 6 năm 1983 tại: Xã T, huyện B; nơi đăng ký cư trú: Thôn 3, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; nghề nghiệp: Kỹ sư xây dựng; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Văn D và bà Dương Thị N; vợ: Nguyễn Thị Phương T, sinh năm 1985, nghề nghiệp: Nhân viên Bưu điện; con: có 02 con (con lớn sinh năm 2019, con bé sinh năm 2021).
Nhân thân: Năm 2006 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” bị Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng (Tại Bản án số 14/2007/HSST ngày 30/01/2007).
Tiền sự: không có.
Tiền án: không có.
Bị cáo bị bắt tạm giử từ ngày 03 tháng 10 năm 2022 cho đến ngày 08 tháng 10 năm 2022 áp dụng biện pháp “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú” đến nay, có mặt.
3.Trang Minh Q; giới tính: nam; tên gọi khác: không; sinh ngày: 18/8/1995; nơi đăng ký cư trú: Tiểu khu 10, thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Trang Văn H và bà Trần Thị C; vợ: Lê Hồng G, sinh năm 1999; nghề nghiệp: lao động tự do; con: có 01 con sinh năm 2020 (còn nhỏ).
Tiền sự: không có.
Tiền án: không có.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03 tháng 10 năm 2022 cho đến ngày 08 tháng 10 năm 2022 áp dụng biện pháp “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú” đến nay, có mặt.
4. Dương Đình T1; giới tính: nam; tên gọi khác: không; sinh ngày: 23/9/1991; nơi đăng ký cư trú: Tiểu khu 7, thị T, huyện B, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; con ông Dương Đình S và bà Hoàng Thị H; vợ: Trần Thị N, sinh năm: 1995; nghề nghiệp: lao động tự do; con: có 01 con sinh 2022 (còn nhỏ).
Tiền sự: không có.
Tiền án: không có.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05 tháng 10 năm 2022 cho đến ngày 08. tháng 10 năm 2022 áp dụng biện pháp “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú” đến nay, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Lê Văn H, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Thôn R, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình (có mặt).
2. Ông Dương Văn H1, sinh năm 1965. Nơi cư trú: Tiểu khu 7, thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 02/10/2022 Dương Đình T1, sinh ngày 23/9/1991, trú tại tiểu khu 7, thị trấn H; Trang Minh Q, sinh ngày 18/8/1995, trú tại tiểu khu 10, thị trấn H và Lê Văn T, sinh ngày 08/01/1977, trú tại thôn L, xã C, huyện , tỉnh Quảng Trị, đang ngồi chơi tại xưởng sửa chữa máy công trình, nằm trong khuôn viên dự án đầu tư xây dựng trụ sở và khu dịch vụ thương mại của công ty TNHH XDTH Phú Lâm, ở tiểu khu 5, thị trấn Hoàn Lão, huyện Bố Trạch, do Lê Văn H, sinh năm 1997, trú tại thôn R, xã T, huyện B, thuê lại của Dương Văn H1, sinh năm: 1965, trú tại tiểu khu 7, thị trấn H, huyện B vào tháng 1/2022. Trong Lúc ngồi chơi T1, Q và T nghe ai đó nói “Mần tí hè”, T1, Q và T hiểu là hẹn đánh bạc, nên đồng ý. Lúc này T1, Q và T vào khu vực phòng ngủ của xưởng, rồi cùng nhau đánh bạc bằng hình thức tiến lên miền nam. Trong lúc T1, Q và T đánh được khoảng 05 phút thì Nguyễn Văn H, sinh ngày 10/6/1983 trú tại thôn 3, xã T, huyện B, tới và cùng tham gia đánh bạc. Trước khi tham gia đánh bạc Nguyễn Văn H mang theo số tiền 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng), Trang Minh Q mang theo số tiền 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng), Dương Đình T1 mang theo số tiền 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng) và Lê Văn T mang theo số tiền 800.000 đồng (tám trăm ngàn đồng) phục vụ vào mục đích đánh bạc. Hình thức đánh được quy định như sau:
Mỗi ván sử dụng bộ bài tu lơ khơ 52 quân chia hết cho 4 người trong sòng bạc, mỗi người 13 quân bài, người nào về nhất (hết bài trên tay đầu tiên) thì thắng, mỗi người thua trả cho người thắng 50.000 đồng (năm mươi ngàn đồng), nếu “ăn” Ba bích (người về nhất đánh quân 3 bích sau cùng) thì “ăn” của mỗi người 200.000 đồng (H trăm ngàn đồng), “cháy” Ba bích thì đền cho người bắt 600.000 đồng (sáu trăm ngàn đồng), nếu ăn trắng (tức 06 đôi, 04 quân 2, 04 quân 3, 03 bộ Sam, các quân bài đồng màu, Sảnh từ 3 đến A) thì “ăn” của mỗi người 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng), nếu “cháy” quân 2 (có người về nhất nhưng người thua trên bài vẫn còn quân 2) thì đền cho người thắng 50.000 đồng (năm mươi ngàn đồng) đối với quân 2 đen và 100.000 đồng đối với quân 2 đỏ, nếu bị bắt quân 2 (tứ quý hoặc các đôi thông) thì đền cho người bắt được giá trị tương tự như bị cháy.
Cả nhóm đánh đến khoảng 16 giờ cùng ngày, thì bị tổ công tác Công an huyện Bố Trạch phát hiện, bắt quả tang thu giử số tiền 7.800.000đồng và các vật chứng liên quan của vụ án. Tại thời điểm Cơ quan Công an bắt quả tang, Dương Đình T1 bỏ chạy cầm theo 50.000đồng và Lê Văn T bỏ chạy cầm theo 50.000đồng và 02 quân cờ khỏi hiện T.
- Ngày 05, 06/10/2022 Dương Đình T1 và Lê Văn T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch đầu thú và tự nguyện giao nộp số tiền 50.000 đồng (năm mươi ngàn đồng) là tiền dùng vào mục đích đánh bạc khi bỏ chạy đã mang theo (BL: 50,51, 150 - 168; 185 - 200; 216 - 232; 243 - 260).
* Việc thu giữ, tạm giữ và xử lý tài liệu, đồ vật:
- Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra tạm giữ tiền Việt Nam Đồng 8.800.000 đồng (tám triệu tám trăm ngàn đồng) mà các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc; 50 quân bài tu lơ khơ màu đỏ;
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SYM Galaxy, mang biển kiểm soát 73F1 - 243.36; 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Tucson, mang BKS 73A - 199.68, màu trắng; 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu PEUGEOT 3008, mang biển kiểm soát 73A - 229.38, màu đỏ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 6S Plus màu hồng; 01 (một) điện thoại Iphone 13 Promax, màu vàng; 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy A51, màu hồng. Quá trình điều tra xác định các đối tượng chỉ đánh bạc thắng thua bằng tiền, không cầm cố thế chấp tài sản để phục vụ vào mục đích đánh bạc, Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu tiến hành trả lại tài sản cho các bị cáo trong vụ án (BL: 83 - 124).
Tại bản Cáo trạng số 04/CT - VKSBT ngày 16/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H, Trang Minh Q và Dương Đình T1 có lý lịch nêu trên, về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự.
Lê Văn T, có lý lịch nêu trên, về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo theo tội danh và điều khoản của Bộ luật hình sự đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn H, Trang Minh Q và Dương Đình T1; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Dương Đình T1, Trang Minh Q;
Căn cứ điểm d, khoản 2, Điều 321; các điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Lê Văn T.
Căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn H.
Căn cứ khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Trang Minh Q.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Q Hội 14 quy định về án phí, lệ phí tòa án đối với tất cả các bị cáo.
Đề nghị xử phạt:
+ Lê Văn T từ 09 tháng đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, nhưng được trừ đi các ngày tạm giữ từ ngày 06 tháng 10 năm 2022 cho đến ngày 08 tháng 10 năm 2022, thời hạn tù còn lại buộc bị cáo phải chấp hành.
+ Nguyễn Văn H từ 30.000.000đ đến 35.000.000đ. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
+ Dương Đình T1 từ 20.000.000đ đến 25.000.000đ. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
+ Trang Minh Q từ 20.000.000đ đến 25.000.000đ. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Về hình phạt bôổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Liên quan trong vụ án có Lê Văn H, sinh năm 1997, trú tại thôn R, xã T, huyện B, thuê lại xưởng sửa chữa máy công trình nằm trong khuôn viên dự án đầu tư xây dựng trụ sở và khu du lịch thương mại, của Công ty TNHH - XDTH “Phú Lâm” của ông Dương Văn H1 vào tháng 01/2022, (Hợp đồng cho thuê tài sản số 01/HĐ - TTS ngày 04/01/2022). Nên Lê Văn H là người quản lý trực tiếp của xưởng sửa chữa, tuy nhiên sáng ngày 02/10/2022 anh Lê Văn H đi sửa chữa máy ở xã Sơn Lộc, huyện Bố Trạch. Việc các bị cáo tham gia đánh bạc tại xưởng sửa chữa thì anh H không biết và không có sự đồng ý của anh H. Xét thấy H không có hành vi vi phạm, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch không xử lý.
Đối với 02 quân cờ quá trình bỏ chạy Lê Văn T có mang theo sau đó vứt bỏ lại ở khu vực gần bờ sông trên đường bỏ chạy, Cơ quan Công an đã tiến hành truy tìm vật chứng tuy nhiên không tìm thấy.
Vật chứng vụ án: Số vật chứng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch đã xử lý đúng pháp luật, nên miễn xét.
Số vật chứng còn lại: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ 50 quân bài tu lơ khơ màu đỏ; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 8.800.000 đồng (tám triệu tám trăm ngàn đồng) mà các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bố Trạch, Điều tra viên Công an huyện Bố Trạch, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội và tội danh của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Lời khai nhận tội của các bị cáo, lời trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có tại hồ sơ vụ án và tại phiên toà, không gian, thời gian, địa điểm các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội bị phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang...hoàn toàn phù hợp nhau. Do đó Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:
Ngày 02/10/2022 tại xưởng sửa chữa máy công trình nằm trong khuôn viên dự án đầu tư xây dựng trụ sở và khu du lịch thương mại, của Công ty TNHH - XDTH “Phú Lâm”, do Lê Văn H thuê lại của Dương Văn H1, sinh năm 1965 vào tháng 1/2022, địa chỉ: Tiểu khu 5, thị trấn Hoàn Lão, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Nguyễn Văn H, Trang Minh Q, Dương Đình T1 và Lê Văn T đã có hành vi đánh bạc bị Công an huyện Bố Trạch phát hiện bắt quả tang, thu giử tổng số tiền 8.800.000đồng. Nên Nguyễn Văn H, Trang Minh Q và Dương Đình T1 phải chịu trách nhiệm hình sự, về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1, điều 321 Bộ luật hình sự.
Đối với Lê Văn T đã bị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị xử phạt 06 tháng tù, tại bản số 08/2021/HSST ngày 10/3/2021, xác định phạm tội thuộc T hợp tái phạm, chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội. Nên thuộc T hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm d, khoản 2, điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác định nội dung vụ án như trình bày ở trên là hoàn toàn đúng, do vậy có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Văn H, Trang Minh Q và Dương Đình T1 có lý lịch nêu trên phạm tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, Lê Văn T phạm tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 2, điều 321 Bộ luật hình sự. Đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch đã truy tố và phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà.
[3] Xét tính chất hành vi, mức độ hậu quả và vai trò của từng bị cáo trong vụ án, thấy rằng:
Các bị cáo đều là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được đúng sai, lẻ ra phải biết tôn trọng, chấp hành quy tắc xử sự chung và chấp hành pháp luật, nhưng do hám lợi nên đã tham gia sát phạt nhau, hơn thua được bằng tiền, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, nếp sống văn minh, gây tác động xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lổi cố ý trực tiếp, gây dư luận không tốt trong nhân dân. Các bị cáo cùng thực hiện một tội phạm, không có dấu hiệu có tổ chức mà đồng phạm giản đơn, trong đó tất cả đều là người thực hành.
[4] Về nhân thân các bị cáo: Trong số 04 bị cáo, có H bị cáo có nhân thân tốt (Trang Minh Q và Dương Đình T1), riêng bị cáo Lê Văn T ngày 13/4/2007 “đánh nhau” bị Công an huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị xử phạt VPHC 350.000 đồng (đã thi hành xong ngày 04/01/2021). Đối với Nguyễn Văn H bị Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng (Tại Bản án số 14/2007/HSST ngày 30/01/2007), về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
[5] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Văn H, Trang Minh Q và Dương Đình T1 đều thành khẩn khẩn báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; các bị cáo Trang Minh Q và Dương Đình T1 phạm tội lần đầu và thuộc T hợp ít nghiêm T1 nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo Lê Văn T có thành tích lập công trong công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm và vi phạm pháp luật được các Cơ quan có thẩm quyền xác nhận, bản thân bị cáo thuộc hộ nghèo, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, bị cáo có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân là lao động chính được chính quyền địa phương xác nhận nên được áp dụng thêm điểm u khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Ngoài ra đối với bị cáo Trang Minh Q đã từng có thời gian phục vụ trong lực lượng Công an nhân dân, bản thân bị cáo đã có thành tích trong hoạt động tình nguyện phòng chống Covid – 19 được BTV Đoàn TT Hoàn Lão biểu dương, tặng thưởng 100.000đ và BTV Tỉnh Đoàn quyết định khen thưởng; Đối với bị cáo Nguyễn Văn H có bố tham gia hoạt động kháng chiến được Chủ tịch nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì; Đối với bị cáo Dương Đình T1 sau khi phạm tội đã ra đầu thú.
Quá trình điều tra làm rõ số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc, cụ thể như sau: Nguyễn Văn H mang theo số tiền 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng), Trang Minh Q mang theo số tiền 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng), Dương Đình T1 mang theo số tiền 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng) và Lê Văn T mang theo số tiền 800.000 đồng (tám trăm ngàn đồng) phục vụ vào mục đích đánh bạc. Như vậy, tổng số tiền mà các đối tượng dùng vào việc đánh bạc được xác định là 8.800.000 đồng.
[7] Về hình phạt chính: Trên cơ sở những tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử cân nhắc, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, nguyên nhân khách quan, yếu tố chủ quan, tính nhân đạo của pháp luật để phân hoá tội phạm khi quyết định hình phạt đảm bảo tính giáo dục và trừng trị mang tính thuyết phục đối với các bị cáo. Theo đó các bị cáo Trang Minh Q, Dương Đình T1 và Nguyễn Văn H có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt và hiện nay có nơi cư trú rỏ ràng, số tiền dùng vào đánh bạc ít, đánh bạc trong thời gian ngắn nên sẻ áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền là phù hợp, riêng đối với bị cáo Lê Văn T phạm tội thuộc T hợp tái phạm nguy hiểm nhưng cũng có nhiều tình tiết giảm nhẹ, số tiền dùng vào đánh bạc ít, đánh bạc trong thời gian ngắn nên cũng cần xem xét áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức án tù dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố là đã có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung về loại tội phạm này.
Liên quan trong vụ án có Lê Văn H, sinh năm 1997, trú tại thôn R, xã T, huyện B, thuê lại xưởng sửa chữa máy công trình nằm trong khuôn viên dự án đầu tư xây dựng trụ sở và khu du lịch thương mại, của Công ty TNHH - XDTH “Phú Lâm” của ông Dương Văn H1 vào tháng 01/2022, (Hợp đồng cho thuê tài sản số 01/HĐ - TTS ngày 04/01/2022). Nên Lê Văn H là người quản lý trực tiếp của xưởng sửa chữa, tuy nhiên sáng ngày 02/10/2022 anh Lê Văn H đi sửa chữa máy ở xã Sơn Lộc, huyện Bố Trạch. Việc các bị cáo tham gia đánh bạc tại xưởng sửa chữa thì anh H không biết và không có sự đồng ý của anh H. Xét thấy H không có hành vi vi phạm, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch không xử lý là đúng quy định.
- Đối với 02 quân cờ quá trình bỏ chạy Lê Văn T có mang theo sau đó vứt bỏ lại ở khu vực gần bờ sông trên đường bỏ chạy, Cơ quan Công an đã tiến hành truy tìm vật chứng tuy nhiên không tìm thấy. Tuy nhiên tài liệu, chứng cứ thu thập được đã đủ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo.
[8] Về hình phạt bổ sung: Hiện nay các bị cáo chưa có công việc làm thường xuyên, thất thường, thu nhập không ổn định nên cần miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp.
[9] Về vật chứng vụ án: Số vật chứng là số tiền 8.800.000 đồng (tám triệu tám trăm ngàn đồng) mà các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước; riêng 50 quân bài tu lơ khơ màu đỏ là công cụ dùng vào việc phạm tội, hiện không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
Số vật chứng nói trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghãi vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 35 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn H, Trang Minh Q và Dương Đình T1;
Căn cứ các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Dương Đình T1, Trang Minh Q;
Căn cứ khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Trang Minh Q và Dương Đình T1;
Căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn H;
Căn cứ điểm d, khoản 2, Điều 321; Điều 38; các điểm s, u khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự đối với Lê Văn T.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Q Hội 14 quy định về án phí, lệ phí tòa án đối với tất cả các bị cáo.
[1] Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Văn H, Trang Minh Q và Dương Đình T1 phạm tội “Đánh bạc”.
[2] Về hình phạt: Xử phạt:
+ Lê Văn T 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, nhưng được trừ đi các ngày tạm giữ từ ngày 06 tháng 10 năm 2022 cho đến ngày 08 tháng 10 năm 2022, thời hạn tù còn lại buộc bị cáo phải chấp hành.
+ Nguyễn Văn H 25.000.000đ (H mươi lăm triệu đồng). Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
+ Dương Đình T1 20.000.000đ (H mươi triệu đồng). Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
+ Trang Minh Q 20.000.000đ (H mươi triệu đồng). Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
[3] Về hình phạt bồ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng vụ án:
- Số vật chứng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch đã xử lý đúng pháp luật, nên miễn xét.
- Số vật chứng còn lại được xử lý như sau:
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền các bị cáo đã dùng vào mục đích đánh bạc là 8.800.000 đồng (tám triệu tám trăm ngàn đồng).
Số vật chứng nói trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình theo biên lai thu tiền số 0002537 ngày 29/12/2022 và số vật chứng được mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/01/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch.
[5] Về án phí: Buộc các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Văn H, Trang Minh Q và Dương Đình T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.
[6] Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22/02/2023) để yêu cầuTòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử theo trình tự phúc thẩm vụ án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh QB; - Sở TP tỉnh QB; - VKSND tỉnh QB; - PV 06 (Phòng Hồ sơ nghiệp vụ CAQB); - VKSND huyện BT; - Công an huyện BT; - Cơ quan THAHS Bố Trạch; - Chi cục THADS huyện Bố Trạch; - UBND xã Trung Trạch và TT Hoàn Lảo, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, UBND xã Cam Thủy, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị; - Thi hành án hình sự TAND huyện BT; - Bị cáo……………………….; - Lưu HSVA; - Lưu AV; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIIÊN TÒA Nguyễn Phú Quảng |