vanban.org

Bản án 14/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phong Điền, TP. Huế Tuyên án 28/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đồng Hữu Đ phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt bị cáo Đồng Hữu Đ: 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đồng Hữu Đ về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đồng Hữu Đ phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHONG ĐIỀN
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14 /2023/HS-ST
Ngày 28-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Trường.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Lệ Hằng.

2. Ông Nguyễn Hồng Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Trúc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12 /2023/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 12 /2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Đồng Hữu Đ, sinh ngày 24/9/1999 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Tổ dân phố V, thị trấn P, huyện PĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Thợ chạm khắc gỗ; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đồng L (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1960; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Lê Bá H, sinh ngày 28/3/2007; địa chỉ: Tổ dân phố L, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

- Người đại diện hợp pháp của Lê Bá H: Bà Phan Thị Y, sinh năm 1970; địa chỉ: Số 36/71 đường N, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; là mẹ đẻ; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đồng Hữu Đ và Lê Bá H thông qua mang xã hội Facebook để liên hệ giao dịch mua bán xe máy, cụ thể:

Khoảng 12 giờ ngày 05/9/2022, tại khu vực cầu PT thuộc thị trấn P, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, Đ mua của H 01 chiếc xe mô tô hiệu Sirius màu đen, không có giấy đăng ký xe, gắn biển kiểm soát giả 75F1-113.86 với giá 2.200.000 đồng. Sau khi mua xe, Đ sử dụng xe làm phương tiện đi lại.

Trưa ngày 07/9/2022, Đ điều khiển xe lưu thông trên địa bàn thành phố H thì bị phát hiện, tạm giữ phương tiện. Qua xác minh, xác định chiếc xe mô tô Đ mua của H có biển kiểm soát 75F1-580.xx, số khung RLCUE3220HY032439, số máy E3X9E128688, chủ sở hữu là Hoàng Trọng T (sinh năm 1970, trú tại số 2/361 Bùi T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế).

Công an thành phố Huế triệu tập Lê Bá H, Lê Quang V (sinh ngày 24/10/2006, trú tại số 73 Đặng V, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế) và Nguyễn Hoàng L (sinh ngày 25/7/2007, trú tại Khu tập thể X, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế). Các đối tượng khai nhận nguồn gốc xe do lén lút chiếm đoạt vào ngày 04/9/2022.

Quá trình điều tra xác minh, Đồng Hữu Đ và Lê Bá H còn khai hành vi mua bán xe máy các lần trước đó, gồm:

Lần 1. Khoảng 09 giờ ngày 31/8/2022, tại khu vực cầu PT thuộc thị trấn P, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, Đ mua của Hiếu 01 chiếc xe mô tô hiệu Sirius màu đỏ - đen (không nhớ biển số), không có giấy đăng ký xe với giá 2.000.000 đồng.

Sau khi mua xe, Đ đăng bán xe trên mạng xã hội Facebook. Đến ngày 01/9/2022, Đ đã bán xe cho một nam thanh niên không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 2.700.000 đồng; hai bên giao nhận xe trên đường Quốc lộ 1A, phía trước cổng chợ P, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Nguồn gốc chiếc xe trên do H cùng Lê Quang V lén lút chiếm đoạt vào tối ngày 30/8/2022 tại khu vực vỉa hè đường L thuộc phường V, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Lần 2. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 02/9/2022, tại khu vực cầu PT thuộc thị trấn P, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, Đ tiếp tục mua của H 01 chiếc xe mô tô hiệu Sirius màu trắng - đen, không có biển số, không có giấy đăng ký xe với giá 2.200.000 đồng.

Sau khi mua xe, Đ đăng bán xe trên mạng xã hội Facebook. Đến chiều ngày 03/9/2022, Đ đã bán lại xe cho một nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 3.000.000 đồng; hai bên giao nhận xe trên đường Quốc lộ 1A, phía trước cổng chợ P, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Nguồn gốc chiếc xe trên do H cùng Lê Quang V và Nguyễn Hoàng L lén lút chiếm đoạt vào tối ngày 01/9/2022 tại khu vực vỉa hè đường L thuộc phường V, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Quá trình xác minh nguồn tin tội phạm không thu giữ được tài sản, không xác định được người bị mất tài sản; không xác định được người đã mua xe từ Đồng Hữu Đ vào các ngày 31/8/2022 và 02/9/2022.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 272/KL-HĐĐGTS ngày 06/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Huế kết luận: 01 chiếc xe mô tô hiệu Sirius màu đen, số khung RLCUE3220HY032439, số máy E3X9E128688 có giá trị 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).

Ngày 14/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số: 148/QĐ-CQĐT-HS đối với Lê Bá H, Lê Quang V và Nguyễn Hoàng L do tại thời điểm thực hiện hành vi, cả ba đều chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Xe mô tô hiệu Sirius màu đen, số khung RLCUE3220HY032439, số máy E3X9E128688 đã trả lại cho chủ sở hữu là Hoàng Trọng T vào ngày 04/11/2022.

Ngày 14/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế chuyển hồ sơ vụ việc liên quan hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có của Đồng Hữu Đ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phong Điền xử lý theo thẩm quyền. Ngày 16/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phong Điền ra khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với Đồng Hữu Đ về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Quá trình điều tra, Đồng Hữu Đ khai nhận hành vi phạm tội; không có khiếu nại gì về các kết luận giám định và các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Ngày 10/3/2023, Lê Bá H và người đại diện hợp pháp tự nguyện giao nộp lại 2.200.000 đồng tiền bán xe cho Đồng Hữu Đ.

Tại Bản Cáo trạng số: 13/CT-VKSPĐ ngày 30/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế đã quyết định truy tố Đồng Hữu Đ về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 323; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo Đồng Hữu Đ từ 06 đến 09 tháng tù; áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 2.200.000 đồng là khoản thu lợi bất chính mà Lê Bá H đã giao nộp.

Đối với hành vi mua xe máy vào các ngày 31/8/2022 và 02/9/2022 qua điều tra chưa xác định được bị hại, không thu giữ được tài sản nên khi nào điều tra làm rõ sẽ xử lý sau.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội. Trình bày lời bào chữa, bị cáo không có ý kiến về hành vi, tội danh, hình phạt và các vấn đề khác.

Nói lời sau cùng tại phiên tòa, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo ở nhà để có điều kiện chăm sóc mẹ già bị bệnh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Về việc vắng mặt đương sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Lê Bá H và người đại diện hợp pháp của Hiếu vắng mặt nhưng không trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.

Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của người tham gia tố tụng khác, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập nên có cơ sở kết luận:

Đồng Hữu Đ với Lê Bá H không có hứa hẹn trước nhưng sau khi biết rõ xe máy mà H đem bán là do phạm tội mà có, Đ nhận mua 01 chiếc xe máy hiệu Sirius màu đen, không có giấy đăng ký xe, gắn biển kiểm soát giả 75F1-113.86 (biển kiểm soát thật là 75F1-580.xx) do H đem bán với giá 2.200.000 đồng vào trưa ngày 05/9/2022 tại khu vực cầu PT thuộc thị trấn P, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nguồn gốc xe máy do H và các đối tượng khác lén lút chiếm đoạt của anh Hoàng Trọng T. Giá trị chiếc xe máy được định giá là 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).

Thời điểm thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, hành vi của bị cáo phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân:

Bị cáo là người đã thành niên, có nghề nghiệp và việc làm nhưng với ý thức coi thường pháp luật, động cơ hám lợi nên khi biết được hành vi trái pháp luật của Lê Bá H và những người khác đã không trình báo đến cơ quan có thẩm quyền mà lại nhận mua tài sản rồi bán lại để thu lợi bất chính, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản và trật tự quản lý của Nhà nước đối với tang vật, tài sản phạm tội, tiếp tay cho các hành vi vi phạm pháp luật.

Tài sản là xe máy mà bị cáo nhận mua ngay sau khi chạy thử thời gian ngắn đã nhanh chóng bán lại cho những người không rõ nhân thân, lai lịch với giá cao hơn để kiếm lời, gây khó khăn trong việc điều tra, xác minh tội phạm.

Xét về nhân thân của bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hình phạt, biện pháp chấp hành hình phạt:

Xét các căn cứ quyết định hình phạt như đã phân tích, cần áp dụng Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 với mức hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục bị cáo.

Mặc dù bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không phạm vào tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng nhưng ngoài hành vi bị truy tố thì còn các lần tiêu thụ tài sản khác đang xác minh. Xét thấy việc áp dụng hình phạt, biện pháp chấp hành hình phạt cho bị cáo cải tạo, giáo dục tại địa phương không đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm nên không thể thỏa mãn cho bị cáo được. Do đó, cần buộc cách ly có thời hạn để răn đe và phòng ngừa chung.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở.

Về biện pháp tư pháp: Số tiền 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng) mà Lê Bá H và người đại diện hợp pháp đã giao nộp, đang gửi vào tài khoản tại Kho bạc Nhà nước huyện Phong Điền theo Ủy nhiệm chi ngày 04/4/2023 là khoản thu lợi bất chính từ việc bán xe máy cho bị cáo. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Bá H và người đại diện hợp pháp của H vắng mặt nên thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Đồng Hữu Đ phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Đồng Hữu Đ: 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015,

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng) đang gửi vào tài khoản tại Kho bạc Nhà nước huyện Phong Điền theo Ủy nhiệm chi ngày 04/4/2023.

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Bị cáo Đồng Hữu Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Bá Hiếu và người đại diện hợp pháp của Lê Bá Hiếu vắng mặt có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ