vanban.org

Bản án 14/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 16/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh Tr và Trang Hải Kh phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

1. Áp dụng: điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s, r, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh Tr mức án 04 (bốn) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 29/6/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Minh Truong va Trang Hai Khuong phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh Tr và Trang Hải Kh phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ R G
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2023/HS-ST
Ngày: 16.02.2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R G, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông Bùi Tấn Nghĩa.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Quốc Tiến.

2. Bà Nguyễn Thị Thùy Ngân.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Nguyên Hưng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố R G, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố R G, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Thiềm Văn Ty - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố R G, tỉnh Kiên Giang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:

1. Nguyễn Minh Tr, sinh ngày 27/5/2000; Nơi sinh: thành phố R G, tỉnh Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Số 54, đường N C T, phường RS, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Bé V và bà Trần Thị Bích T; Vợ, con: Chưa có; Em ruột: 01 người, sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/6/2022 cho đến nay.

2. Trang Hải Kh, sinh ngày 07/10/1996; Tên gọi khác: Đ; Nơi sinh: thành phố R G, tỉnh Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Số 155/39, đường N C T, phường RS, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trang Tài Q và bà Huỳnh Thị Ngọc D (đã chết); Vợ, con: Chưa có; Chị ruột: 01 người, sinh năm 1992; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/5/2013 bị Ủy Ban nhân dân thành phố R G đưa vào Tr giáo dưỡng số 5 tuộc tỉnh Long An, thời gian 24 tháng, về hành vi gây rối trật tự công cộng. Đến ngày 16/8/2015 chấp hành quyết định, đã được xóa tiền sự. Ngày 13/12/2016 bị Tòa án huyện C T, tỉnh Kiên Giang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 18 tháng. Đến ngày 15/12/2017 chấp hành xong, đã được xóa tiền sự.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam được tại ngoại cho đến nay.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Người làm chứng:

+ Phạm Minh K1, sinh năm 1986. Địa chỉ: Ấp Đ Đ, xã T H, huyện T U, tỉnh Kiên Giang.

+ Lê Minh Nh, sinh năm 2002. Địa chỉ: 59/4 H X H, phường V T, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang.

(Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 03 giờ, ngày 29 tháng 6 năm 2022, tại nhà số 699/22 đường M C, phường V Q, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R G phối hợp Công an phường V Q tiến hành bắt quả tang đối Nguyễn Minh Tr về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ bên trên niệm trong phòng ngủ ở tầng trệt nhà số 699/22 đường M C, phường V Q, thành phố R G nơi Tr đang ngồi một hộp giấy bên trong có: 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu đỏ bên trong có 10 (mười) viên nén hình đầu lâu và 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu đỏ bên trong có chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể không đồng nhất; 02 (hai) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu đỏ bên trong có chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể không đồng nhất; 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu đỏ bên trong có chứa 08 (tám) viên nén hình đầu lâu.

Quá trình điều tra đã xác định Nguyễn Minh Tr là người nghiện ma túy loại khay và thuốc lắc từ năm 2019 nhưng không sử dụng thường xuyên. Vào ngày 28/6/2022 Tr dùng điện thoại liên lạc và hỏi mua ma túy (loại khay và thuốc lắc) của người đàn ông tên Huy (chưa rõ tên thật, địa chỉ) với số tiền là 8.000.000 đồng, gồm: 18 (mười tám) viên thuốc lắc và 01 (một) bịch khay. Sau khi có ma túy Tr đem ma túy khay về nhà thuê ở số 699/22 đường M C, phường V Q, thành phố R G để sử dụng dần đồng thời chia nhỏ ra để bán cho các con nghiện kiếm lời. Quá trình bán ma túy Tr cùng với Trang Hải Kh (tên thường gọi là Đ), sinh năm 1996, cư trú 155/39 N C T, phường RS, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang là bạn của Tr cùng bán ma túy với vai trò Kh là người đi giao ma túy cho Tr và sẽ được Tr trả tiền công và cho ma túy để sử dụng. Quá trình điều tra đã xác định Tr và Kh đã bán ma túy cho các người nghiện sau:

- Bán cho Phan Minh K1, sinh năm 1986, cư trú: Ấp Đ Đ, xã T H, huyện T U, tỉnh Kiên Giang được 02 (hai) lần: Lần thứ nhất vào ngày 10/6/2022, K1 gọi vào số điện thoại của Tr hỏi mua 04 (bốn) viên thuốc lắc, 01 (một) bịch ma túy khay với số tiền tổng cộng là 2.100.000 đồng, Tr nói với K1 là cho Kh (Đức) đi giao và kêu K1 đợi ở trên đường M C, phường V Q, thành phố R G, nhưng do có việc cần đi ra R G nên Tr trực tiếp đi giao và lấy tiền mặt.

Lần thứ hai là khoảng ngày 23/6/2022, Tr tiếp tục nhận được số điện thoại tự xưng là K1 (do Tr không lưu số) gọi mua 4 (bốn) viên thuốc lắc, 01 (một) bịch ma tuý khay với tổng số tiền 2.100.000 đồng, Tr hẹn giao ở ngã tư đèn xanh đèn đỏ đường M C, phường V Q, thành phố R G và lần này Tr kêu Kh là người đi giao và nhận tiền. Tr kêu Kh chạy tới đầu đường N C T, phường RS, thành phố R G gặp Tr lấy ma túy đi giao cho K1, khi Kh đến Tr kêu mang ma túy 04 (bốn) viên thuốc lắc, 01 (một) bịch ma túy khay đi giao ở ngã tư đèn xanh đỏ đường M C, phường V Q, thành phố R G cho K1 và lấy số tiền tổng cộng là 2.100.000 đồng thì Kh đồng ý. Khoảng 40 phút sau thì Kh mang tiền về đưa cho Tr và được Tr trả công cho Kh 01 (một) viên thuốc lắc, 01 (một) bịch ma túy khay như thỏa thuận.

- Bán cho Lê Minh Nhật, sinh năm 2002, cư trú: 59/4 H X H, phường RS, thành phố R G. Đầu tháng 06/2022, khi mua được ma túy Tr gọi cho Nhật nói có bán ma túy khay, thuốc lắc, khi cần sử dụng thì mua của Tr và Nhật đồng ý. Nhật mua của Tr 02 (hai) lần và cả hai lần Tr là người trực tiếp hẹn giao ở khu vực cổng chợ RS (bên phía chợ mới), vào khoảng 18 hoặc 19 giờ. Tr gọi giới thiệu có bán ma túy với Nhật được khoảng 03 ngày thì Nhật gọi mua 05 (năm) viên thuốc lắc và 01 (một) bịch khay với số tiền tổng cộng là 3.300.000 đồng. Lần thứ hai là vào ngày 15/6/2022, Nhật tiếp tục mua 05 (năm) viên thuốc lắc, ma túy khay với số tiền là 4.200.000 đồng và Nhật nhờ Tr chia ma túy khay thành 03 (ba) bịch nhỏ để thuận tiện cho việc sử dụng.

Quá trình bán ma túy Nguyễn Minh Tr thu lợi với số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Quá trình điều tra, truy tố, Tr và Kh thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Vật chứng thu được:

- Thu giữ bên trên niệm trong phòng ngủ ở tầng trệt nhà số 699/22 đường M C, phường V Q, thành phố R G nơi Tr đang ngồi một hộp giấy bên trong có: 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu đỏ bên trong có 10 (mười) viên nén hình đầu lâu và 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu đỏ bên trong có chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể không đồng nhất; 02 (hai) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu đỏ bên trong có chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể không đồng nhất; 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu đỏ bên trong có chứa 08 (tám) viên nén hình đầu lâu; 01 (một) bịch nylon màu đen, bên trong có nhiều bịch nylon màu trắng; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone số imel: 356718113409467; 01 (một) dĩa sứ; 01 (một) cân tiểu ly; 01 (một) hộp giấy (loại hộp đựng điện thoại).

* Tại bản kết luận giám định số: 607/KL-KTHS, ngày 06/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận:

+ 18 (mười tám) viên nén hình đầu lâu chứa trong 02 (hai) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại MDMA, Khối lượng mẫu gửi giám định là 8,0712 gam.

+ Các hạt chất rắn màu trắng không đồng nhất chứa trong 03 (ba) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 4,2862 gam.

MDMA là chất ma túy nằm trong danh mục I, STT 27, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT 35, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thống nhất và không có ý kiến hay khiếu nại gì đối với kết luận giám định nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số: 24/CT-VKSRG ngày 05/01/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố R G, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh Tr về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Truy tố bị cáo Trang Hải Kh về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm r, s, t khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Tr mức án từ 04 năm đến 05 năm tù.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trang Hải Kh mức án từ 02 năm đến 03 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2, 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone số imel: 356718113409467; Tiền Việt Nam: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) là số tiền gia đình bị cáo Nguyễn Minh Tr giao nộp tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma túy.

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi Niêm phong mẫu vật, vụ số: 607/2022 có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh Thủy, người chứng kiến Võ Thị Thủy Tiên và hình dấu tròn của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang; 01 (một) bịch nylon màu đen, bên trong có nhiều bịch nylon màu trắng; 01 (một) dĩa sứ; 01 (một) cân tiểu ly; 01 (một) hộp giấy (loại hộp đựng điện thoại).

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 16/QĐ-VKSRG, ngày 03 tháng 01 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố R G.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo Nguyễn Minh Tr và Trang Hải Kh thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố R G đã truy tố. Các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và không có ý kiến gì khác.

Tại phần nói lời sau cùng các bị cáo trình bày: Các bị cáo đã nhận biết được hành vi của mình là sai trái và vi phạm pháp luật, xin được giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sữa chữa sai lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố R G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố R G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ và tình tiết định tội, định khung hình phạt: Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Minh Tr và Trang Hải Kh đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai nhận tội tại Cơ quan điều tra; biên bản bắt người phạm tội quả tang; tài liệu, đồ vật thu giữ trực tiếp tại hiện Tr; lời khai nhận của người làm chứng; kết luận giám định của các cơ quan có thẩm quyền và phù hợp các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được làm rõ tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Nguyễn Minh Tr và Trang Hải Kh đều là đối tượng nghiện ma túy. Vào lúc 03 giờ, ngày 29/6/2022, tại nhà số 699/22, đường M C, phường V Q, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R G phối hợp Công an phường V Q bắt quả tang và thu giữ tại nơi ở của Tr 18 (mười tám) viên nén hình đầu lâu chứa trong 02 (hai) bịch nylon, qua giám định là chất ma túy, loại MDMA, khối lượng là 8,0712 gam và 03 (ba) bịch nylon bên trong có chứa các hạt chất rắn màu trắng không đồng nhất, qua giám định là chất ma túy, loại Ketamine, khối lượng là 4,2862 gam. Nguồn gốc ma túy là do Tr mua của người đàn ông tên Huy (chưa rõ tên thật, địa chỉ) với số tiền là 8.000.000 đồng. Sau khi có ma túy, Tr phân ra thành nhiều bịch nhỏ và cùng với Trang Hải Kh đã bán trái phép chất ma túy, loại Ketamine và MDMA cho Phạm Minh K1 và Lê Minh Nhật. Trang Hải Kh là bạn của Tr, đã giúp Tr bán ma túy để được Tr cho ma túy sử dụng miễn phí. Khi có người điện thoại cho Tr hỏi mua ma túy, Tr thỏa thuận giá bán và địa điểm giao hàng xong thì Tr trực tiếp đi giao ma túy hoặc đưa ma túy cho Kh giao cho người nghiện và đem tiền về đưa cho Tr. Tổng số tiền Nguyễn Minh Tr thu lợi bất chính từ việc bán ma túy với số tiền 5.000.000 đồng. Qua điều tra đã xác định Tr và Kh đã bán ma túy cho Phan Minh K1 được 02 lần và Tr bán cho Phạm Minh Nhật 02 lần, cụ thể như sau:

+ Ngày 10/06/2022, Tr trực tiếp bán cho Phạm Minh K1 04 (bốn) viên thuốc lắc, 01 (một) bịch ma túy khay với số tiền là 2.100.000 đồng.

+ Ngày 23/6/2022 Tr đưa cho Trang Hải Kh 04 (bốn) viên thuốc lắc, 01 (một) bịch ma tuý khay để Kh đem bán cho Phạm Minh K1 với số tiền 2.100.000 đồng, tại ngã tư đèn xanh đèn đỏ đường M C, phường V Q, thành phố R G. Sau đó Kh đem tiền về đưa cho Tr và được Tr trả công bằng hình thức cho Kh ma túy để sử dụng miễn phí.

+ Tháng 06/2022, Tr trực tiếp bán ma túy cho Lê Minh Nhật 02 lần tại khu vực cổng chợ RS (bên phía chợ mới), phường RS, thành phố R G tổng số là 10 viên thuốc lắc và 02 bịch khay với tổng số tiền là 7.500.000đ.

Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Minh Tr đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Trang Hải Kh đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự như kết luận của Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn bất chấp mọi hậu quả xảy ra để thực hiện bằng được hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội của các bị cáo là vi phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, việc tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép ma túy là tiền đề tạo ra nhiều tệ nạn xấu, đặc biệt là dễ dẫn đến nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác, làm tăng thêm sự phức tạp về tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến bản thân các bị cáo nói riêng và cộng đồng xã hội nói chung. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo. Tuy nhiên, để cá thể hóa hình phạt, cần xem xét, đánh giá hành vi, mức độ, vai trò phạm tội của từng bị cáo. Vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, giữa các bị cáo không có sự phân công cụ thể hoặc cấu kết chặt chẽ với nhau trước khi thực hiện hành vi phạm tội:

+ Đối với bị cáo Nguyễn Minh Tr: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có vai trò quyết định trong vụ án là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm và cũng là người trực tiếp thực hiện tội phạm. Điều đó thể hiện ở việc bị cáo là người tìm mua ma túy, sau khi có ma túy bị cáo phân ma túy ra thành nhiều bịch nhỏ để sử dụng và bán lại cho những người nghiện khác để kiếm lời và khi những người nghiện liên hệ mua ma túy thì bị cáo trực tiếp bán hoặc đưa ma túy cho bị cáo Kh đem giao và lấy tiền về đưa lại cho bị cáo. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn so với các bị cáo Kh.

+ Đối với các bị cáo Trang Hải Kh: Bị cáo là đồng phạm với vai trò là người giúp sức tích cực cho bị cáo Tr, bị cáo đã trực tiếp đem ma túy đi bán và nhận tiền từ người mua ma túy theo sự phân công của bị cáo Tr để được bị cáo Tr cho ma túy sử dụng miễn phí. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Tr và Kh đã thành khẩn khai báo đúng sự thật về hành vi phạm tội của mình, thể hiện thái độ ăn năn hối cải nên các bị cáo có đủ căn cứ để áp dụng tình tiết “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Riêng đối với bị cáo Tr đã tự mình nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội khác của mình mà chưa bị phát hiện; đồng thời, quá trình điều tra bị cáo đã phối hợp tốt với Cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm, hỗ trợ Cơ quan điều tra triệt xóa nhiều điểm, bắt nhiều đối tượng có hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy và được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R G đề nghị xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ khi xét xử theo Công văn số 1040/CV-MT ngày 20/12/2022 nên bị cáo có tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo Tr đã giao nộp toàn bộ số tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma túy; bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự nên bị cáo có tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Về nhân thân, bị cáo Kh là người có nhân thân xấu.

Sau khi xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của xã hội cho hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Xét thấy, bị cáo Nguyễn Minh Tr có 03 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 và có tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo Kh có một tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Tuy nhiên, với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong thời gian mới đảm bảo mục đích trừng trị, răn đe, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt sau này, sống có ích cho xã hội và làm gương cho người khác có ý định phạm tội.

Hội đồng xét xử xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thành phố R G về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, mức hình phạt là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Đối với Phan Minh K1 và Lê Minh Nh hiện đã bị xét xử trong vụ án khác về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, nên HĐXX miễn xét.

Đối với người tên Huy (không rõ tên thật, địa chỉ) là người đã bán ma túy cho Tr. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố R G đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào đủ căn cứ sẽ truy cứu sau, nên HĐXX miễn xét

Về các vấn đề khác:

- Về vật chứng và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2, 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone số imel: 356718113409467 và tiền Việt Nam: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) là số tiền gia đình bị cáo Nguyễn Minh Tr giao nộp tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma túy.

+ Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi Niêm phong mẫu vật, vụ số: 607/2022 có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh Thủy, người chứng kiến Võ Thị Thủy Tiên và hình dấu tròn của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang; 01 (một) bịch nylon màu đen, bên trong có nhiều bịch nylon màu trắng; 01 (một) dĩa sứ; 01 (một) cân tiểu ly; 01 (một) hộp giấy (loại hộp đựng điện thoại).

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 16/QĐ-VKSRG, ngày 03 tháng 01 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố R G.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Tr và Kh, mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh Tr và Trang Hải Kh phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

1.1. Áp dụng: điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s, r, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh Tr mức án 04 (bốn) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 29/6/2022.

1.2. Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trang Hải Kh mức án 02 (hai) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

2. Về vật chứng và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2, 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone số imel: 356718113409467; Tiền Việt Nam: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) là số tiền gia đình bị cáo Nguyễn Minh Tr giao nộp tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma túy.

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi Niêm phong mẫu vật, vụ số: 607/2022 có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh Thủy, người chứng kiến Võ Thị Thủy Tiên và hình dấu tròn của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang; 01 (một) bịch nylon màu đen, bên trong có nhiều bịch nylon màu trắng; 01 (một) dĩa sứ; 01 (một) cân tiểu ly; 01 (một) hộp giấy (loại hộp đựng điện thoại).

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 16/QĐ-VKSRG, ngày 03 tháng 01 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố R G.

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 6, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

+ Bị cáo Nguyễn Minh Tr và Trang Hải Kh, mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ