vanban.org

Bản án 14/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 11, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 24/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Lạc Chí T, Diệp Tuấn A, Trần Văn T, Âu Phú N, Nguyễn Ngọc Thùy Tr, Ngũ Mỹ Ph và Lại Hoàng Thị Ngọc H phạm tội: “Đánh bạc”.

1/ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 Xử phạt bị cáo Lạc Chí T 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lạc Chí T, Diệp Tuấn A, Trần Văn T, Âu Phú N, Nguyễn Ngọc Thùy Tr, Ngũ Mỹ Ph và Lại Hoàng Thị Ngọc H phạm tội: “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________________
Bản án số: 14/2023/HS-ST
Ngày: 24-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tô Đông Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Phương Tín

2. Ông Lý Thành Trung

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ngon - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Lạc Chí T; sinh năm: 1990 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 118/14B Lê Đại Hành, Phường 7, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm công; trình độ học vấn: 12/12; con ông Lạc Nhuận H (Chết) và bà Trần Thị C; Hoàn cảnh gia đình: có vợ tên là Sán Phúc L và có 01 người con, sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 10/5/2022, đến ngày 19/5/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

2. Diệp Tuấn A; sinh năm: 1975 tại: Sài Gòn; hộ khẩu thường trú: 1162/29 đường 3/2, Phường 12, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 71/1G Bình Thới, Phường 11, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh;; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 1/12; con ông Diệp Tô H và bà Lưu Tố N; Hoàn cảnh gia đình: có vợ tên là Diệp Mỹ L và có 02 người con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2006. Tiền án: Không có, tiền sự: Ngày 11/6/2019, bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng theo Quyết định số 81/QĐ-TA. Chấp hành xong ngày 25/3/2021

Nhân thân:

-Ngày 15/11/1996, bị Tòa án nhân dân Quận 11 xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án số 303/HSST.

- Ngày 29/6/2000, bị Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 38/HSST. Bị cáo kháng cáo, ngày 27/10/2000 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tại Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử y án sơ thẩm theo Bản án số 2795/HSPT. Chấp hành xong bản án ngày 01/9/2004, đương nhiên xóa án tích.

Ngày 02/3/2018, bị Công an Quận 11 xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 10/5/2022, đến ngày 19/5/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

3. Trần Văn T; sinh năm: 1976 tại: An Giang; hộ khẩu thường trú: ấp Châu Giang, xã Châu Phong, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang; chỗ ở: 90/8 Tuệ Tĩnh, Phường 13, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh, tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 2/12; con ông Trần Văn T (Chết) và bà Lê Kim C; Hoàn cảnh gia đình: có vợ tên là Trần Thị Kim G và có 02 người con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 10/5/2022, đến ngày 19/5/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

4. Âu Phú N; sinh năm: 1983 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 25/13 Trần Quý, Phường 4, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: ấp Vĩnh Phước, xã Phước Lý, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: Không biết chữ; con ông Âu Cẩm V và bà Lương M; Hoàn cảnh gia đình: Chưa vợ. Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 10/5/2022, đến ngày 13/5/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

5. Nguyễn Ngọc Thùy Tr; sinh năm: 2003 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 90/9G Tuệ Tĩnh, Phường 13, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm công; trình độ học vấn: 8/12; con ông Nguyễn Hữu Ph và bà Nguyễn Thị Hồng Th; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có chồng. Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 10/5/2022, đến ngày 13/5/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

6. Ngũ Mỹ Ph; sinh năm: 1965 tại: Sài Gòn; hộ khẩu thường trú: 25/13 Trần Quý, Phường 4, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 90/16C Tuệ Tĩnh, Phường 13, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; con ông Đặng Bá Đ (Chết) và bà Ngũ M (Chết); Hoàn cảnh gia đình: Chưa có chồng. Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 10/5/2022, đến ngày 13/5/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

7. Lại Hoàng Thị Ngọc H; sinh năm: 1983; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: D4/110 Quốc lộ 50, ấp 4, xã Phong Phú, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: Không biết chữ; con ông Lại Phước C và bà Lê Thị H; Hoàn cảnh gia đình: có chồng tên là Huỳnh Vũ Ph và có 02 người con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đào Thị Th, sinh năm: 1968, địa chỉ: 90/16 Tuệ Tỉnh, Phường 13, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 10/5/2022, Lạc Chí T, Diệp Tuấn A cùng nhiều người (không rõ lai lịch) tụ tập tại sạp không số chợ Phú Thọ, Phường 13, Quận 11 (sạp chợ không buôn bán và có sẵn bàn ghế) rồi rủ nhau cùng chơi đánh bạc dưới hình thức binh xập xám được thua bằng tiền. Khi đó, T nhờ bà Đào Thị Th đi mua dùm bài và trà đá (do bà Th bán đồ ăn sáng trong chợ Phú Thọ, Tâm thường tới chợ để ăn uống nên biết bà Th, khi T nhờ mua bài tây thì bà Th đồng ý giúp và chưa lấy tiền). Bà Th tự bỏ ra 20.000 đồng mua bài và trà đá cho T, sau đó đi về nhà. Khi đánh bạc các bị cáo quy định: Sử dụng bộ bài tây 52 lá, chia cho 04 tụ mỗi tụ 13 lá bài. Sau đó, người chơi sắp sếp bài (binh bài) thành 03 chi: 05 lá bài cho chi 01, 05 lá bài cho chi 02, 03 lá bài cho chi 03, sắp xếp sao cho chi 01 lớn hơn chi 02 và chi 02 lớn hơn chi 03, nếu không sẽ tính là binh lủng. Độ lớn của các chi được sắp xếp theo thứ tự tăng dần: Mậu thầu (03 lá bài không giống nhau), đôi (hai lá bài giống nhau như 02 con 03), thú (02 đôi), xám chi (03 lá bài giống nhau), sảnh (gồm 05 lá bài có số liên tiếp nhau tăng dần), thùng (05 lá bài đồng màu, đồng chất), cù lũ (xám chi và đôi), tứ quý (04 lá bài giống nhau), thùng phá sảnh (là sảnh đồng màu, đồng chất). Sau khi binh bài xong thì 04 người cùng nhau lật bài và so sánh kết quả cù lũ thắng thùng, thùng thắng sảnh, sảnh thắng xám chi, xám chi thắng thú, thú thắng đôi, đôi thắng mậu thầu. Nếu bài hòa giữa người làm cái với người chơi thì người làm cái thắng. Trong đó, một người làm cái và ba người còn lại so bài ăn thua với cái, mỗi ván bài người chơi đặt tối đa số tiền 300.000 đồng và tối thiểu 50.000 đồng, mỗi tụ làm cái ba ván rồi xoay vòng, ai đến vòng thì làm cái, không làm cái thì bỏ qua và khi bài ai mậu binh (bài có thùng phá sảnh, tứ quý, 06 đôi, 03 thùng, 03 sảnh) thì bỏ vào lon 10.000 đồng để làm để mua bài và trà đá. Khi T cùng Diệp Tuấn A, Trần Văn T, Lại Hoàng Thị Ngọc H đang đánh bạc thì có Nguyễn Ngọc Thùy Tr, Âu Phú N, Ngũ Mỹ Ph đánh ké vào tụ bài của Tuấn A. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, khi các bị cáo Nm, Tr, H, T, T, Tuấn A và Ph đang đánh bạc thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an Quận 11 phát hiện bắt quả tang. Riêng H và những người không rõ lai lịch bỏ chạy thoát. Ngày 11/5/2022, Hà đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đầu thú giao nộp 250.000 đồng và thu giữ số tiền 67.400.000 đồng (trong đó số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 5.800.000 đồng, còn 61.600.000 đồng là tiền cá nhân của các bị cáo), 06 điện thoại di động các loại, 03 bộ bài tây, 04 ghế nhựa, 01 tấm ván gỗ, 01 tấm nhựa, còn lon đựng tiền xâu bị rơi mất cùng số tiền. Ngoài ra, còn thu giữ của người liên quan ông Nguyễn Văn B 01 điện thoại di động hiệu OPPO A37F, 550.000 đồng, bà Đào Thị Th 400.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, Lạc Chí T, Diệp Tuấn A, Trần Văn T, Âu Phú N, Nguyễn Ngọc Thùy Tr, Ngũ Mỹ Ph và Lại Hoàng Thị Ngọc H khai nhận, ngày 10/5/2022 đánh bạc lần đầu thì bị bắt quả tang như trên và địa điểm đánh bạc trên không có ai tổ chức, số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 5.800.000 đồng, cụ thể như sau:

1/ Lạc Chí T khai nhận: mang theo 15.850.000 đồng, sử dụng 3.050.000 đồng để đánh bạc, Tâm thua 100.000 đồng, khi bắt quả tang thu giữ trên chiếu bạc 2.950.000 đồng, trong người 12.800.000 đồng (là tiền cá nhân của Tâm), 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 9S, T không nhớ rõ bỏ bao nhiêu tiền xâu.

2/ Trần Văn Tg khai nhận: mang theo 6.300.000 đồng, sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc, Tùng thắng 600.000 đồng, khi bị bắt thu giữ trên chiếu bạc 1.100.000 đồng, thu trong người 5.800.000 đồng (là tiền cá nhân của Tùng), 01 điện thoại di động hiệu Nokia đen trắng màu xanh, T không nhớ đã bỏ tiền xâu bao nhiêu.

3/ Diệp Tuấn A khai nhận: mang theo 1.020.000 đồng, sử dụng 620.000 đồng để đánh bạc, trong lúc chơi thì có Âu Phú N và Nguyễn Ngọc Thùy Tr ké vào tụ bài, Tuấn A thắng 300.000 đồng nhưng chi tiền xâu 20.000 đồng nên số tiền thực tế Tuấn A cầm về là 280.000 đồng (trong đó có 200.000 đồng là tiền thắng của Trang), khi bị bắt thu giữ trên chiếu bạc 900.000 đồng, thu giữ trong người Tuấn A 400.000 đồng (tiền cá nhân của Tuấn A), 01 điện thoại di động hiệu Itel màu đỏ.

4/ Lại Hoàng Thị Ngọc H khai nhận: mang theo 800.000 đồng đùng đánh bạc, H thua 400.000 đồng. Khi Công an kiểm tra H đã bỏ chạy thoát và ngày 11/5/2022 H đến Công an Quận 11 đầu thú giao nộp số tiền đánh bạc 250.000 đồng, H không nhớ đã bỏ bao nhiêu tiền xâu .

5/ Nguyễn Ngọc Thùy Tr khai nhận: mang theo 41.200.000 đồng, sử dụng 400.000 đồng để đánh bạc, Trang đặt ké vào tụ bài của Diệp Tuấn A, ván 01 thua 100.000 đồng, ván 02 thắng 200.000 đồng nhưng chưa kịp lấy thì bị bắt quả tang, khi bị bắt thu giữ trên chiếu bạc 300.000 đồng, thu giữ trong người 39.900.000 đồng (tiền cá nhân của Tr, còn 1.000.000 đồng rơi mất), 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu vàng.

6/ Âu Phú N khai nhận: mang theo 1.500.000 đồng, sử dụng 300.000 đồng để đánh bạc và Ngũ Mỹ Ph hùn 100.000 đồng thành 400.000 đồng đặt ké vào tụ bài của Diệp Tuấn A, thua 100.000 đồng, khi bị bắt giữ thu giữ trên chiếu bạc 300.000 đồng, thu giữ trong người 1.200.000 đồng (là tiền cá nhân của N), 01 điện thoại di động hiệu Nokia 130 màu đỏ .

7/ Ngũ Mỹ Ph khai nhận: mang theo 650.000 đồng, sử dụng 100.000 đồng đánh bạc và hùn vốn cùng Âu Phú N đặt ké vào tụ bài của Diệp Tuấn A. Thua thắng như thế nào thì Nam chưa báo lại nên chưa biết thì bị bắt quả tang, thu giữ trong người 550.000 đồng (là tiền cá nhân của Ph), 01 điện thoại di động hiệu Samsung A10S màu đỏ.

Vật chứng, đồ vật tạm giữ:

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO A37F và 550.000 đồng là tài sản cá nhân của ông Nguyễn Văn B không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 trả lại cho ông B.

- Tổng số tiền thu giữ là 66.850.000 đồng (trong đó số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 5.800.000 đồng, còn 61.050.000 đồng là tiền cá nhân của các bị cáo và bà Th); 06 điện thoại di động các loại là tài sản cá nhân của các bị cáo (gồm điện thoại di động hiệu Samsung A10S, Nokia 130 màu đỏ, Redmi Note 9S, Nokia đen trắng, màu xanh, Itel màu đỏ, Iphone XS Max màu vàng); 03 bộ bài tây, 04 ghế nhựa, 01 tấm ván gỗ, 01 tấm nhựa. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đang tạm giữ

Bản cáo trạng số 10/Ctr-VKS ngày 16 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 đã truy tố các bị cáo Lạc Chí T, Diệp Tuấn A, Trần Văn T, Âu Phú N, Nguyễn Ngọc Thùy Tr, Ngũ Mỹ Ph và Lại Hoàng Thị Ngọc H về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, các bị cáo Lạc Chí T, Diệp Tuấn A, Trần Văn T, Âu Phú N, Nguyễn Ngọc Thùy Tr, Ngũ Mỹ Ph và Lại Hoàng Thị Ngọc H có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, nêu các tình tiết giảm nhe, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Lạc Chí T từ 09 (Chín) tháng đến 01 (Một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo có ấn định thời gian thử thách; đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Diệp Tuấn A từ 09 (Chín) tháng đến 01 (Một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo có ấn định thời gian thử thách; đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Trần Văn T từ 09 (Chín) tháng đến 01 (Một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo có ấn định thời gian thử thách; đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Âu Phú N từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo có ấn định thời gian thử thách; đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Thùy Tr từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo có ấn định thời gian thử thách; đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Ngũ Mỹ Ph từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo có ấn định thời gian thử thách; đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Lại Hoàng Thị Ngọc H từ 09 (Chín) tháng đến 01 (Một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo có ấn định thời gian thử thách.

Đề nghị miễn phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về phần xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự: 03 bộ bài tây, 04 ghế nhựa, 01 tấm ván gỗ, 01 tấm nhựa phục vụ cho việc đánh bạc và không còn giá trị sử dụng thì tịch thu tiêu hủy. Tiền, vật dùng vào việc đánh bạc thì tịch thu sung quỹ nhà nước; cụ thể như sau :

- Của bị cáo Lạc Chí T 2.950.000 đồng;

- Của bị cáo Diệp Tuấn A 900.000 đồng;

- Của bị cáo Trần Văn T 1.100.000 đồng;

- Của bị cáo Âu Phú N 300.000 đồng;

- Của bị cáo Nguyễn Ngọc Thùy Tr 300.000 đồng.

- Của bị cáo Lại Hoàng Thị Ngọc H 250.000 đồng.

Tiền, điện thoại di động của các bị cáo không liên quan đến hành vi đánh bạc thì trả lại cho các bị cáo, cụ thể :

- Trả cho bị cáo Lạc Chí T 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 9S và số tiền 12.800.000 đồng.

- Trả cho bị cáo Diệp Tuấn A 01 điện thoại di động hiệu Itel màu đỏ và số tiền 400.000 đồng.

- Trả cho bị cáo Trần Văn T 01 điện thoại di động hiệu Nokia đen trắng màu xanh và số tiền 5.800.000 đồng

- Trả cho bị cáo Âu Phú N 01 điện thoại di động hiệu Nokia 130 màu đỏ và số tiền 1.200.000 đồng.

- Trả cho bị cáo Nguyễn Ngọc Thùy Tr 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu vàng và số tiền 39.900.000 đồng.

- Trả cho bị cáo Ngũ Mỹ Ph 01 điện thoại di động hiệu Samsung A10S màu đỏ. và số tiền 550.000 đồng.

- Trả lại bà Đào Thị Th số tiền 400.000 đồng.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên; các bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tung:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về trách nhiệm hình sự của các bị cáo trong vụ án:

Tại phiên tòa hôm nay, qua phần xét hỏi và tranh tụng công khai các bị cáo Lạc Chí T, Diệp Tuấn A, Trần Văn T, Âu Phú N, Nguyễn Ngọc Thùy Tr, Ngũ Mỹ Ph và Lại Hoàng Thị Ngọc H đã thừa nhận hành vi đánh bạc với nhau, tổng cộng số tiền thu giữ được trên chiếu bạc là 5.800.000 đồng. Lời nhận tội của các bị cáo nêu trên phù hợp với bản kết luận điều tra của Công an Quận 11, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập tại hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Lạc Chí T, Diệp Tuấn A, Trần Văn T, Âu Phú N, Nguyễn Ngọc Thùy Tr, Ngũ Mỹ Ph và Lại Hoàng Thị Ngọc H phạm tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công cộng, tạo ra một dư luận xấu trong nhân dân và góp phần cho các tội phạm khác phát sinh như trộm cắp, cướp giật, gây rối trật tự công cộng. Các bị cáo là những người có đầy đủ năng lực hành vi, mặc dù nhận thức được hành vi của mình bị pháp luật ngăn cấm nhưng vẫn ngang nhiên thực hiện bất chấp mọi hâu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố các bị cáo Lạc Chí T, Diệp Tuấn A, Trần Văn T, Âu Phú N, Nguyễn Ngọc Th Tr, Ngũ Mỹ Ph và Lại Hoàng Thị Ngọc H phạm tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, cần thiết phải có mức hình phạt thật tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm tạo điều kiện cho các bị cáo phấn đấu trở thành người tốt hơn sau này, biết tôn trọng pháp luật, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ như các bị cáo Lạc Chí T, Trần Văn T, Âu Phú N, Nguyễn Ngọc Thùy Tr, Ngũ Mỹ Ph và Lại Hoàng Thị Ngọc H mới phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền dùng để đánh bạc không lớn, riêng bị cáo H tự nguyện ra đầu thú. Qua diễn biến tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.

Đối với bị cáo Diệp Tuấn A mặc dù nhân thân bị cáo xấu, tuy nhiên bị cáo đã được xóa án tích do đó căn cứ theo Nghị quyết 02/2018-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem như bị cáo chưa có tiền án. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ như bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, số tiền dùng để đánh bạc không lớn nên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo Lạc Chí T, Diệp Tuấn A, Trần Văn T, Âu Phú N, Nguyễn Ngọc Thùy Tr, Ngũ Mỹ Ph và Lại Hoàng Thị Ngọc H có địa chỉ rõ ràng, trong thời gian tại ngoại các bị cáo đã chấp hành tốt lệnh triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng. Đồng thời qua đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội mà cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục đối với các bị cáo, đồng thời cũng có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm chung và phù hợp với quy định Điều 65 Bộ luật hình sự, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với người phạm tội lần đầu biết ăn năn hối cải.

- Các vật chứng : 03 bộ bài tây, 04 ghế nhựa, 01 tấm ván gỗ, 01 tấm nhựa phục vụ cho việc đánh bạc và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; Tiền dùng vào việc đánh bạc thì tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước ; cụ thể như sau:

- Của bị cáo Lạc Chí T 2.950.000 đồng;

- Của bị cáo Diệp Tuấn A 900.000 đồng;

- Của bị cáo Trần Văn T 1.100.000 đồng;

- Của bị cáo Âu Phú N 300.000 đồng;

- Của bị cáo Nguyễn Ngọc Thùy Tr 300.000 đồng.

- Của bị cáo Lại Hoàng Thị Ngọc H 250.000 đồng.

Tiền và tài sản của các bị cáo không liên quan đến vụ án thì trả lại cho bị cáo; cụ thể :

- Trả cho bị cáo Lạc Chí T 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 9S và số tiền 12.800.000 đồng.

- Trả cho bị cáo Diệp Tuấn A 01 điện thoại di động hiệu Itel màu đỏ và số tiền 400.000 đồng.

- Trả cho bị cáo Trần Văn T 01 điện thoại di động hiệu Nokia đen trắng màu xanh và số tiền 5.800.000 đồng

- Trả cho bị cáo Âu Phú N 01 điện thoại di động hiệu Nokia 130 màu đỏ và số tiền 1.200.000 đồng.

- Trả cho bị cáo Nguyễn Ngọc Thùy Tr 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu vàng và số tiền 39.900.000 đồng.

- Trả cho bị cáo Ngũ Mỹ Ph 01 điện thoại di động hiệu Samsung A10S màu đỏ. và số tiền 550.000 đồng.

- Trả lại bà Đào Thị Th số tiền 400.000 đồng.

Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh của các bị cáo nên miễn phạt bổ sung.

Đối với hành vi của Đào Thị Th được Lạc Chí T nhờ mua bài dùm để T đánh bạc. Nhận thấy, khi T nhờ bà Th mua 02 bộ bài tây và trà đá, T không nói cho bà Th biết mục đích là đánh bạc được thua bằng tiền, sau khi mua bài cho T, bà Th đi về nhà không có mặt tại sòng bạc, lời khai của bà Th phù hợp với lời khai của T và các bị cáo khác. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 không xử lý hình sự bà Th với vai trò đồng phạm giúp sức là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Lạc Chí T, Diệp Tuấn A, Trần Văn T, Âu Phú N, Nguyễn Ngọc Thùy Tr, Ngũ Mỹ Ph và Lại Hoàng Thị Ngọc H phạm tội: “Đánh bạc”.

1/ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Lạc Chí T 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Lạc Chí T cho Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

2/Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Diệp Tuấn A 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Diệp Tuấn A cho Ủy ban nhân dân Phường 11, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

3/Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Trần Văn T cho Ủy ban nhân dân Phường 13, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

4/ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Lại Hoàng Thị Ngọc H 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Lại Hoàng Thị Ngọc H cho Ủy ban nhân dân Xã Phong Phú, Huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

5/Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Thùy Tr 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Ngọc Thùy Tr cho Ủy ban nhân dân Phường 3, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

6/Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Ngũ Mỹ Ph 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Ngũ Mỹ Ph cho Ủy ban nhân dân Phường 13, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

7/Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Âu Phú N 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Âu Phú N cho Ủy ban nhân dân Xã Phước Lý, Huyện Cần Giuộc, Tỉnh Long An giám sát giáo dục và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi địa chỉ thì thực hiện theo Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự:

Tiền dùng vào việc đánh bạc thì tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước ; cụ thể như sau:

- Của bị cáo Lạc Chí T 2.950.000 đồng;

- Của bị cáo Diệp Tuấn A 900.000 đồng;

- Của bị cáo Trần Văn T 1.100.000 đồng;

- Của bị cáo Âu Phú N 300.000 đồng;

- Của bị cáo Nguyễn Ngọc Thùy Tr 300.000 đồng.

- Của bị cáo Lại Hoàng Thị Ngọc H 250.000 đồng.

- 03 bộ bài tây, 04 ghế nhựa, 01 tấm ván gỗ, 01 tấm nhựa phục vụ cho việc đánh bạc và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Tiền và tài sản của các bị cáo không liên quan đến vụ án thì trả lại cho bị cáo; cụ thể :

- Trả cho bị cáo Lạc Chí T 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 9S và số tiền 12.800.000 đồng.

- Trả cho bị cáo Diệp Tuấn A 01 điện thoại di động hiệu Itel màu đỏ và số tiền 400.000 đồng.

- Trả cho bị cáo Trần Văn T 01 điện thoại di động hiệu Nokia đen trắng màu xanh và số tiền 5.800.000 đồng

- Trả cho bị cáo Âu Phú N 01 điện thoại di động hiệu Nokia 130 màu đỏ và số tiền 1.200.000 đồng.

- Trả cho bị cáo Nguyễn Ngọc Thùy Tr 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu vàng và số tiền 39.900.000 đồng.

- Trả cho bị cáo Ngũ Mỹ Ph 01 điện thoại di động hiệu Samsung A10S màu đỏ và số tiền 550.000 đồng.

- Trả lại bà Đào Thị Th số tiền 400.000 đồng.

(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 35/LNK-ĐCSHS ngày 13/5/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, các bị cáo mỗi người phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự năm 2008.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

(Đã giải thích chế định án treo)

Cỡ chữ